Giới thiệu địa chỉ sửa chữa máy bơm nước, sửa chữa điện nước, sửa điện nước, sửa chữa điện nước tại nhà, thông tắc chậu rửa bát và cung cấp mua bán phụ tùng xe howo chính hãng chuyên nghiệp, uy tín, được nhiều bình chọn tin dùng tại Hà Nội

21:46 ICT Thứ sáu, 19/07/2019
Tập thể CB - GV - NV và Học sinh trường THCS và THPT Hóa Tiến thi đua Dạy tốt - Học tốt

Tin tức

Tổ chức

Tra cứu thông tin

Tài nguyên

Tiện ích

Facebook trường

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 598

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8160

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1342374

Trang chủ » Tin Tức » Tin tức » 410 năm hình thành tỉnh Quảng Bình

thcsvathpthoatien.edu.vn

TRUYỀN THUYÊT, HUYỀN THOẠI GẮN VỚI DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở QUẢNG BÌNH (P1)

Thứ sáu - 03/01/2014 10:57
Đèo Mụ Giạ
Đèo Mụ Giạ nằm trên Đường 12A, gần cửa khẩu Cha Lo, là địa giới tự nhiên của hai nước Việt Nam và Lào. Nơi đây có núi cao, rừng rậm nhiều khe suối. Đèo Mụ Giạ là một di tích lịch sử. Cách đây hơn một trăm năm từng in dấu chân của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết trong phong trào Cần Vương đầu thế kỷ XX. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đèo Mụ Giạ nói riêng và cả tuyến đường 12A nói chung là một tọa độ lửa, nơi ghi dấu nhiều chiến công hiển hách của quân dân ta đánh bại mọi cuộc tấn công hủy diệt của máy bay Mỹ bảo đảm cho tuyến đường thông suốt chi viện cho tiền tuyến. Đèo Mụ Giạ là con đèo thủy chung của tình đoàn kết chiến đấu hai dân tộc Việt- Lào trong hai cuộc kháng chiến và ngày nay là con đèo gắn kết tình hình nghị và cùng nhau phát triển của hai tỉnh Quảng Bình và Khăm Muộn.
 
Thuở xa xưa, nước ta thời các vua Hùng, tiếp giáp với nước Tiết Hầu ở phương Nam. Hai nước Văn Lang và Tiết hầu cùng chung biên giới, núi liền núi, sông liền sông. Vì thế nhiều lúc không phân biệt đâu là ranh giới.
Trong dân gian đã có nhiều ý kiến đưa ra phải làm sao để phân chia ranh giới rạch ròi của mỗi nước. Hai ông vua của hai nước vốn  tính hiền hòa, không muốn chiến tranh xảy ra bằng đao binh để phân chia biên giới bèn nghĩ cách để giải quyết bằng hòa bình. Mỗi bên cử một người ra đi từ nước mình sang nước bên kia cùng một thời gian, cùng một giờ, cùng một ngày nếu ai đến trước gặp nhau ở đâu thì lấy đó làm ranh giới biên cương của mỗi nước.
          Nhà vua cử sứ giả ra đi tìm khắp cả nước tìm người tài giỏi để đảm nhận trọng trách này. Sứ giả đã đi khắp nơi hết vùng này sang vùng khác mà vẫn chưa tìm được người. Mặc dù đã sắp đến ngày thi tài nhưng vẫn chưa tìm được ai vừa ý. Lúc ấy ở một làng quê hẻo lánh, tận miền Tây của tỉnh Quảng Bình có một bà già khỏe mạnh, bà chỉ sống có một mình. Vì ở vùng hẻo lánh, sống lẻ loi đơn độc nên sứ giả tìm mãi đến gần ngày cuối cùng mới tìm được. Khi nghe sứ giả nói tin này, bà già rất mừng, bà đã sốt sắng nhận lời.Thấy bà người cao to khỏe mạnh khác thường, sứ giả khấp khởi mừng thầm vội vả  đưa bà về yết kiến nhà vua.Vua rất đổi vui mừng, cử bà tham gia vào cuộc thi đi bộ vào sáng hôm sau. Suốt đêm ấy, bộ phận nhà bếp đã chuẩn bị cho bà cơm nước để bà ăn. Bà tên là Giạ đã ăn hết mấy nong cơm lớn để tờ mờ sáng hôm sau bước vào cuộc thi đấu.
 Rạng canh năm, khi gà vừa báo canh thứ nhất, mụ Giạ đã chuẩn bị khởi hành. Bà đi nhanh như chim bay, mỗi bước của bà đi vượt qua hai ba quả núi cao, năm sáu ngọn đồi lớn. Chưa đầy nửa buổi, bà đã đi mấy trăm dặm đường. Đến quá trưa, chân bà đã đặt chân tới dãy Khai Trướng (núi Giăng Màn) ở Quảng Bình giáp ranh giữa hai nước Việt (Việt Nam) và Tiết Hầu (Lào).Và cuối cùng bà đã gặp người của nước bên kia nam con đèo.Từ đó, ngọn đèo trở thành biên giới tây nam của nước ta, ngọn đèo đó thuộc dãy núi Giăng Màn- địa giới thiên nhiên của hai nước Việt- Lào ngày nay. Đó là con đèo tình nghĩa, là vùng rừng phân thủy, xuôi dòng theo con nước chảy. Bên này đi về Khe Ve, La Trọng (Việt Nam), bên kia đi về Ba Na Phầu, Lằng Khằng, bản Đủ, bản Tươn của đất nước Triệu voi.
          Để ghi nhớ công lao của bà mở mang bờ cõi, người ta lấy tên của bà đặt tên cho con đèo ấy là Đèo Mụ Giạ.   
Người sưu tầm:Trần Thị Thị Hồng
Theo lời kể của ông Hồ Bôn,
 bản Y Leng, xã Dân Hóa, Minh Hóa
 
          Dị bản: Về tên Đèo Mụ Giạ có truyền thuyết rằng kể rằng, ngày xưa đói kém, dân làng phải vào rừng tìm củ núc , củ nâu để sống qua ngày. Từng đoàn người phải tha phương cầu thực. Họ kéo nhau vượt qua những ngọn núi điệp trùng của dãy Trường Sơn. Có một bà cụ già, đã già lắm, không còn ai nương tựa phải chống gậy đi theo đoàn người để tìm cái sống. Lên đến đỉnh đèo thì cụ kiệt sức, khụy xuống, trút hơi thở cuối cùng nơi ngọn đèo heo hút nơi khúc yên ngựa của dãy Giăng Màn. Người trong đoàn chôn cất cụ nơi đỉnh đèo. Về sau, cứ mỗi người đi qua nơi này đều đắp thêm cho cụ một hòn đá, nắm đất. Nấm mộ cụ ngày càng cao rộng, trở thành một cột mốc của những tha phương cầu thực xứ người. Họ đặt tên cho ngọn đèo nơi biên giới giữa hai nước Việt- Lào đèo Mụ Giạ ( đèo bà già- theo tiếng địa phương).
 
 Cổng Trời
 
Cổng Trời nằm ở cây số 34,5km trên đường 12A, từ ngã ba Khe Ve lên Cha Lo, đèo Mụ Giạ. Cổng trời được tạo bời hai khối đá tự nhiên khổng lồ tạo nên, một bên tiếp giáp với vách núi, một bên là vực thẳm, chênh vênh giữa núi cao, rừng thẳm huyền bí như cái cổng của trời. Cổng trời là di tích lịch sử thời chống Mỹ cứu nước. Nơi đây từng là “tọa độ lửa” vang dội những chiến công vang dội của các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong trong các trận chiến đấu với máy bay Mỹ bảo đảm sức sống cho tuyến đường 12A huyền thoại. Trên đường đến cổng trời có bản Y Len. Cổng trời và Y Len gắn với một truyền thuyết của vùng Dân Hóa.
Theo truyền thuyết của tộc người Khùa tại địa phương kể lại rằng:
Ngày xưa ở đây là vùng đất bằng phẳng, làng bản sầm uất. Sông Rào Cái chảy qua thung lũng chia thành năm nhánh uốn lượn tưới tắm cho đồng ruộng của các làng bản nên quanh năm lúa ngô xanh mượt. Dân bản mở hội ăn mừng được mùa. Chúa đất Khăm Ta của tộc người Khùa đã tổ chức lễ cưới (Đăm khơi) cho con gái là nàng Y Leng. Y leng đã chuẩn bị nắn búi tóc, sửa lại váy có nhiều tua bạc lấp lánh rồi dạo ra bờ sông để đón người yêu. Bên kia sông, họ nhà trai cũng chuẩn bị chè rượu, mâm xôi, trống kèn để xuống bè sang sông. Chàng rể Thông Ma là người Mày cũng đang đóng khố (Xa lai) để sang đón người yêu. Chàng đứng bên này ngẩng đầu nhìn nàng Y Leng ở bên kia sông. Chàng Thông Ma bước lên bè để sang bờ bên kia. Bỗng chiếc bè trùng triềng, Thông Ma lỡ đà, ngã chúi. Bên kia nàng Y Leng trông sang thấy thế hoảng hốt và cũng trượt chân ngã nhào người xuống sông. Chàng Thông Ma lao theo dòng nước để cứu người yêu. Nhưng do nước chảy quá xiết nên đã cuốn nàng Y Leng. Chàng Thông Ma cứ tìm suốt ba ngày đêm vẫn không thấy.Chàng thẫn thờ đi dọc bờ sông tìm xác người vợ yêu quý trong vô vọng. Người dân bản cho rằng dưới sông có con thuồng luồng đã nuốt nàng Y Leng mất rồi. "Thôi về đi, không thể tìm thấy Y Leng đâu" .
Thông Ma rất buồn rầu, chàng quyết tâm giết bằng được thuồng luồng để báo thù cho vợ mình.Từ sáng tinh mơ, Thông Ma đã thức dậy, leo lên đỉnh núi Cà Tôộc, chọn hai tảng đá lớn, chàng vào rừng rậm chặt đòn gánh rồi gánh đá để lấp hang thuồng luồng ở trên đỉnh núi Xi Phay, chàng đi hết bao nhiêu núi đồi đến khi đòn gánh cong lại như cánh cung mới về đến đầu làng. Nhưng không may đòn gánh gãy, hai hòn đá rơi xuống. Và ý định lấy đá lấp hang thuồng luồng của Thông Ma không thành. Chàng mắc bệnh và mất. Hai tảng đá do chàng làm rơi đã chụm lại thành cổng đi vào làng. Và để tưởng nhớ đến chàng trai có dũng khí và sức mạnh cũng như tình yêu chung thủy đó, dân làng Cà Tôộc  đặt tên cho hai hòn đá chụm lại đó là  "Cổng Trời" và tên bản có người con gái đẹp là bản Y Len.
          Ngày nay Cổng Trời đã là di tích lịch sử cách mạng vừa là một thắng cảnh kỳ thú trên đường 12 anh hùng.
 
                                                    Người sưu tầm:Trần Thị Diệu Hồng
Theo lời kể của ông Hồ Bôn- Bản YLeng - xã Dân Hóa- Minh Hóa)
 
 Sơn thần Khe Ve
 
          Khe Ve là một địa danh khá nổi tiếng của vùng đất Minh Hóa. Chảy từ những vùng núi phía tây nhiều dòng suối nhập vào Khe Ve là một dòng suối lớn chảy ngang qua tuyến đường 12 trên đường lên Cha Lo cửa khẩu biên giới Việt Lào. Thời kỳ Cần Vương, vùng này là căn cứ kháng chiến của vua Hàm Nghi. Ngày 21-1-1886 quân và dân Khe Ve đã đánh bại cuộc tiến quân của quân Pháp khi chúng tiến công  truy tìm vua Hàm Nghi mở đầu cuộc cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cuối thế kỷ , Khe Ve là một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ và ở đây đã từng ghi dấu những chiến công vang dội của các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong bảo vệ tuyến đường huyết mạch ra tiền tuyến. Khe Ve là một điểm di tích lịch sử trong hệ thống di tích Đường Hồ Chí Minh trên đất Quảng Bình.
           
Ngày xưa, nơi đây là một vùng rừng núi thâm u với nhiều loài thú dữ, đặc biệt có đàn voi rừng thường ra phá hoại nương rẫy, bản làng. Cuộc sống của dân bản vùng Bãi Dinh, Khe Ve, La Trọng luôn nơm nớp lo sợ, họ phải chạy đi nơi khác để tránh sự tàn phá của đàn voi dữ.  Dân làng họp lại cúng giàng, kêu cứu. Giàng động lòng cho một Sơn Thần xuống trần ngăn đàn voi. Từ đó cuộc sống của người dân nơi đây mới an cư lạc nghiệp. Để ghi nhớ công ơn của người đã cứu dân bản khỏi sự phá hoại của đàn voi dữ, dân bản làm sớ tâu lên triều đình xin được phong thần cho vị Sơn Thần nhưng không được phúc đáp. Vì vậy dân làng đã tạc tượng vị Sơn Thần trên đỉnh núi, sau lưng là rừng cây trước mặt là Khe Ve cuộn chảy. Đó là Sơn Thần Khe Ve mà ngày nay vẫn còn trong núi.
          Về truyền thuyết này cụ Trần Mạnh Đàn, tri huyện Tuyên Hóa (trước đây vùng này thuộc huyện Tuyên Hóa, chưa có huyện Minh Hóa) bài thơ sau:
          Sơn thần nghe nói ấy người Mày,
          Tượng đá dân làng mới dựng xây.
          Núi đứng sau lưng, cây dằng dặc,
          Sông trôi trước mặt nước vơi đầy.
          Người qua động cát khum lưng vái,
Voi chặn đường quan đuổi một bầy.
Đã quyết xin cho thần được sắc,
Được không còn thuộc chín tầng mây.
 
Người sưu tầm: Nguyễn Đắc Danh
Người kể: Ông Đinh Lừm xã Dân Hóa
Con voi của vua Hàm Nghi

Khi rời Tân Sở (Quảng Trị) ra Quảng Bình tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vua Hàm Nghi có đem theo một con voi. Con voi đó đã giúp Hàm Nghi vượt núi cao, suối sâu trong suốt mấy năm trời. Tháng giêng năm Mậu Tý (1888) Hiệp quản Trương Quang Ngọc phản bội dẫn quân  Pháp bắt vua Hàm Nghi, con voi của vua trốn chạy vào rừng sâu. Sau đó mấy hôm, người ta thấy con voi trở lại nơi lán tranh của vua Hàm Nghi đã bị đốt cháy, rống lên tham khóc thảm thiết. Dân vùng Khe Ve cho biết, để trả thù cho chủ, con voi là nổi khiếp sợ của quân Pháp ở các đồn trú gần đó. Nhiều lần nó đã rượt đuổi, chà chết nhiều toán lính Pháp,và giúp các nghĩa quân Cần Vương tiếp tục cuộc chiến đấu. Có truyền thuyết kể lại rằng, sau khi Hàm Nghi bị bắt, tướng Lê Mộ Khởi vẫn tập hợp một số nghĩa quân vào rừng sâu tiếp tục tổ chức cuộc kháng chiến. Nghĩa quân của Lê Mộ Khởi đã phối hợp với nghĩa quân Phan Đình Phùng chiến đấu chóng lại những cuộc càn quét của quân Pháp ở vùng miền Tây Quảng Bình, Hà Tĩnh. Năm 1893 Lê Mộ Khởi bị sốt rét rừng, sức tàn lực kiệt chính con voi của vua Hàm Nghi đã đưa ông về về quê hương ông ở tận làng Cao Lao bên dòng sông Gianh, sau đó nó lại trở về rừng xanh vùng núi Minh Hóa. Hàng ngày không thấy ở đâu nhưng thỉnh thoảng, đến gần ngày vua Hàm Nghi bị bắt nó lại xuất hiện ở vùng Khe Ve, Quy Đạt, Chà Mạc gầm rống lên như than khóc. Có khi voi như nổi cơn điên dữ dội, phá tan cả một cánh rừng. Có khi người ta bắt gặp nó phủ phục bên đường rên rĩ nhớ thương người chủ củ. Voi về rồi lại đi, trước khi đi người ta thấy nó quay đầu về hướng tây quỳ lạy một hồi lâu rồi thất thểu đi vào rừng xanh.
          Dân làng ở Khe Ve cho biết, trên cổ voi còn mang một vành đai bằng vàng khảm ngọc do đó rất nhiều thợ săn các nơi về đây theo đuổi săn bắt nhiều ngày nhiều năm nhưng đều không được. Dân làng cho rằng nó đã chết và hóa thành Voi thần trên vùng núi Cha Lo.
 
                                                                                                                             Người sưu tầm: Nguyễn Đức Danh
Theo ông Cao Lượng xã Dân Hóa
 
 
 
 
 
 
 
 
Thần núi Cu Lôông
 
Ngày xưa, trên ngọn núi cao nhất, có cái hang đẹp, có người của Giàng là Cu Lôông ở. Coi giữ cái hang, phụng thờ thần Cu Lôông là ông Chầu Cu Phoi. Ông Chầu Cu Phoi là người đức độ, luôn luôn trực tiếp giúp đỡ ông Chầu Mường của huyện Khùa mình. Ông cầu nguyện Cu Lôông phù hộ cho dân bản huyện Khùa bình yên, làm ăn thịnh vượng. Ông giúp ông Chầu Mường quản lý, xây dựng huyện Khùa mình thái bình, thịnh trị. Ông Chầu Mường biết ơn ông Châu Cu Phoi, hỏi ông Châu Cu Phoi ở chổ nào để đem lễ đến trả ơn, thì ông Châu Cu Phoi trả lời:
- Miềng ở núi Cu Lôông lẹ.
Ông Chầu Mường sắm lễ vật, đi theo ông Châu Cu Phoi lên đỉnh núi cao đó. Đến nơi, thấy cái hang đẹp, ông Châu Cu Phoi nói Với ông Chầu Mường:
- Ông không vào được. Chỉ miềng vào thôi.
Ông Chầu Mường đem lễ vật cho ông Châu Cu Phoi đưa vào hang, còn mình ở ngoài hang đợi. Ông Châu Cu Phoi bưng lễ vật vào hang nói chuyện ầm ầm ở trong hang. Được một lúc, ông Châu Cu Phoi ra và nói với ông Chầu Mường:
- Tôi đã nói với ngài Cu Lôông. Từ nay, có việc gì ông soạn hai mâm lễ vật đặt dưới sân nhà cầu ngài Cu Lôông phù hộ là được.
Từ đó trong huyện Khùa có việc gì hệ trọng, ông Chầu Mường đều cầu thần Cu Lôông: Cầu gì được nấy. Huyện Khùa từ đó được thần núi Cu Lôông phù hộ thái bình, thịnh vượng. Nên núi đó gọi là núi thần Cu Lôông, người Khùa mới thờ núi Cu Lôông làm thần đứng đầu các vị thần giang sơn của huyện Khùa mình.
                                                          Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Cụ Hồ Xóoc, 79 tuổi,
                                            người Khùa, ở bản Ra Mai, xã Dân Hóa.
 
Giếng vuông- giếng tròn

 
Ngày xưa, Giàng làm hạn hán kéo dài, cả xứ huyện Khùa, các khe suối đều cạn sạch nước, chỉ còn cái vực nước miệng tròn ở khe Tre và cái vực miệng vuông ở khe Bãi Dinh nước đầy ắp. Tất cả người và các loài vật ở xứ Khùa đều đến hai vực nước chảy này ở, ăn, uống mà sống. Đến khi có mưa, các khe suối có đầy nước, người mình chia nhau ra đi đến các khe suối ở làm ăn. Từ đó mới có người Mày, người Khùa ở các bản đến ngày nay. Người già nói hai vực nước đó là hai cái giếng nước của thần Cu Téc cho nước lên cứu người Mày và người Khùa mình. Nên người mình gọi vực giếng nước miệng tròn là Paca nền và gọi vực nước miệng vuông là Troong Chèng.
 
                                       Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Cụ Hồ Móoc, 63 tuổi, người Khùa
                                       ở bản Si, xã Dân Hóa huyện Minh Hóa, 
Lèn Ra Giàng
 
Ngày xưa, có một gia đình người Khùa mình ở bản Ra Giàng sinh được một đứa con gái. Rồi một người con trai đến chơi, đứa con gái ưng lấy làm chồng. Bố mẹ người con gái đó không cho con gái về nhà chồng mà bắt con rể ở A duốc (làm con rể ở trong nhà). Một hôm, bố vợ nói với con rể:
- Mọi thức ăn ngon, bọ ăn rồi. Chỉ còn cá chình chưa được ăn.
Con rể biết ý bố vợ muốn nói mình tìm cá chình cho bố ăn. Con rể cầm chài, câu đi và đã bắt được con cá chình to, một mình kéo không được, bèn gọi ba người trong bản cùng kéo lên bờ,chia nhau ăn. Được ăn canh cá chình rồi, bố vợ lại nói với con rể:
- Tất cả đã được ăn rồi. Chỉ còn con tằm rán mỡ cá chình là chưa được ăn.
Con rể biết bố vợ nhủ mình, bèn đi tìm con tằm về rán mỡ cá chình cho bố vợ ăn. Ăn xong, tự nhiên động trời, động đất, mưa to gió lớn rồi nữa đêm, cả bản Ra Giàng bị sập xuống thành bãi đất bằng chỉ còn lại dãy lèn đá. Từ đó ở nơi đây, hễ động trời là có tiếng trống, tiếng chiêng. Người xưa nói đó là tiếng trống, tiếng chiêng mở hội mừng đã trừng trị được kẻ tham ăn ngon miệng. Nơi dãy lèn đá đó gọi là lèn Ra Giàng.
Người kể: Cụ Hồ Đeng, 60 tuổi, người Khùa,
                                        giáo viên nghỉ hưu ở bản Yleng, xã Dân Hóa,
                                                               huyện Minh Hóa, Quảng Bình
 
Hòn đá A da be

Ngày xưa có bà A da be đói, không có gì ăn. Bà đi câu cá kiếm cái ăn. Bà đi đến vực nước Ca Ròong thì ngã ra chết. Dân bản thương xót, chôn cất tại bên bờ vực Cà Ròong đó. Hồn bà A da be lên ở trên hòn đá to cao giữa vực Cà Ròong. Từ đó, hễ con chim gì đến đậu trên hòn đá đó đều rơi xuống chết tươi, người mình đi làm rẫy hay đi câu cá, đi săn bắn thì sắm hai miếng trầu, hai miếng cau đem đến hòn đá đó cầu xin bà A da be phù hộ là làm rẫy lúa tốt được ăn no, câu cá có cá, săn bắt được chim, thú cũng có cái canh ăn ngon.
Từ đó, người mình mới gọi hòn đá to ở vực Cà Ròong đó là hòn A da be.
 
  Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Cụ Hồ Kết, 83 tuổi, người Khùa,
                                                                   ở Bản Yleng, xã Dân Hóa
Các truyền thuyết, huyền thoại gắn với di tích Thác Bụt và lễ hội Rằm Tháng Ba ở Minh Hóa
Lễ hội Rằm Tháng Ba ở Minh Hóa được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình ra quyết định công nhận là Lễ hội văn hóa cấp tỉnh gắn với di tích vùng Thác Bụt (Pụt). Đây là lễ hội của nhân dân các dân tộc vùng núi Tuyên Hóa. Ngoài di tích vùng Thác Bụt các địa phương cơ sở có những ngọn núi, con suối gắn với kho tàng truyền thuyết, huyền thoại của một vùng đất được lưu truyền trong dân gian.
Bụt (Pụt) lèn Ông Ngoi
 
Tời hơ (đời xưa) dựng đất, dựng nước, trên Trời có Người Nhà Trời ở là Tiên và Pua (Vua) nhà Trời; dưới nước có người Nhà Nước là Rồng và Pua Nhà Dác (vua nhà Nước), còn Đất có người nhà Tất (nhà Đất) ở là ông Pụt.
          Ông Pụt là người tài giỏi, hiền lành, ăn ở phúc đức, biến hóa khôn lường. Ông Pụt cho sinh ra con người và muôn vật. Con người mình đây là con cháu ông Pụt, cho nên ông Pụt luôn theo sát con người. Con người làm gì ông Pụt đều biết hết. Pụt luôn giúp những người ăn ở hiền lành, trừng trị những kẻ ác độc làm hại con người, kể cả ông trời.
          Bình thường ông Pụt hóa thành mười hai tượng đá ngồi trên bàn đá bằng phẳng ở đỉnh lèn Ông Ngoi nơi có giếng nước trong, có cây cam quả chín đỏ tươi, rất ngọt. Khi có việc cần giúp người hoạn nạn, trừng trị kẻ ác ông Pụt hiện lên thành một người lúc là một ông già râu tóc bạc phơ bày vẻ cho con người làm việc phúc đức; lúc thì là một người đàn ông ăn mặc rách rưới đi ăn xin, nghỉ trọ gửi cục vàng nhờ cất giữ, hoặc mượn bếp nồi nấu ăn để thử lòng người. Ai thiệt thà, ông Pụt giúp có vàng, có bạc làm ăn giàu có. Ai tham lam, keo kiệt ông Pụt trừng trị, không tha thứ như chuyện bố mẹ thằng Ngại tham cục vàng, ông Pụt đã bắt thằng Ngại lại, bố mẹ nó sinh ra hai con chim kêu “ Pụt chộ tha, tha không chộ Pụt” (Pụt thấy ta, ta không thấy pụt); Hoặc như, có một đôi vợ chồng nhà giàu keo kiệt, ông Pụt mượn bếp nồi nấu ăn chỉ cho mượn bếp nồi không cho củi, Pụt phải đẻo hai chân mình làm củi đun. Nấu chín, ăn xong ra đi thì hai vợ chồng nhà giàu thấy hai cột nhà mình bị đẽo gần đứt. Thấy vậy chủ nhà bèn đem hai cột nhà vứt xuống thác Dác Dòn làm cho Pụt giận dữ cho voi về phá mùa màng, cho hổ về bắt người đem vào rừng ăn thịt. Dân làng biết được, ngày rằm tháng ba đến thác Dác Dòn lập bàn thờ cúng, ông Pụt hết giận, dân làng yên ổn, làm ăn thịnh vượn, cầu gì được nấy. Tục cúng ông Pụt ở thác Dác Dòn vào ngày rằm tháng Ba có từ ngày ấy.
- Lèn ông Ngoi nay thuộc thôn Kiều Tiến, xã yên Hóa
  • Thác dác Dòn nơi có bàn thờ ông Pụt nay thuộc thôn Kiều Tiến, xã Yên Hóa
Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: cụ Đinh Phù 83 tuổi ở thôn Sạt
 thị trấn Quy Đạt, Minh Hóa
Thác Bụt (Pụt)
 
          Tời hơ (đời xưa), có hai anh em trai con một nhà người Nguồn mình đi tìm ong mật. Hai anh em cứ nhìn chóp lèn ông Ngoi mà đi lên. Lên đến đỉnh lèn gặp chỗ đá bằng phẳng, có giếng nước trong, hai anh em ngồi nghỉ, mở cơm gói ra ăn. Ăn xong múc giếng nước uống, trông lên thấy cây cam quả chín đỏ tươi, hai anh em trèo lên hái quả ăn, lại hái một người một quả đem về cho con. Xong rồi hai người ra về. Đi một lúc, hai anh em lại trở về chỗ cũ nơi có giiếng nước và cây cam. Hai anh em lại đi tiếp, một lúc sau vẫn trở về chỗ cũ. Hai người biết mình lấy cam nên bị thần linh trêu. Hai anh em đem hai quả cam trả lại để ra về, trông lên bàn đá cao phẳng lỳ thì thấy mười hai hòn đá giống hình người ngồi thẳng hàng. Hai người lên xem, thấy đẹp mỗi người cắt dây buộc mỗi người một hòn đá đem về cho con chơi. Buộc xong, hai người cứ thẳng đường mà đi. Đi đến thác nước Dác Dòn, hai người đặt hai hòn đá xuống bên bờ khe rồi xuống nước tắm. Tắm xong, hai người định mang hai hòn đá về nhà thì không nhấc lên được. Hai hòn đá đã mắc cứng bên bờ suối. Người em nóng tính, bực mình dùng rựa ghè sứt môi một hòn rồi hai anh em bỏ đó trở về nhà.
          Thế là từ đó làng Ang1, làng Cầu2, làng Phooc Lac3 người thì ốm đau, mùa màng làm ra bị voi và lợn rừng về phá. Khán (hổ) về làng bắt người đem vào rừng ăn thịt làm náo động xóm làng. Đàn bà làng đi bói, các thầy bói nói rằng :
          - Trong làng có hai người đi đến chỗ Pụt ở quấy phá rồi đem đi của Pụt hai ông đến thác nước bỏ mặc ở đó làm cho Pụt giận. Bây giờ làng phải đến chỗ thác nước đó mà thờ phụng, tế lễ cho các ngài.
          Người đi bói về hỏi lại trong làng có ai đi đâu, làm gì, có gặp Pụt hiện lên ở đâu không? Thì biết hai anh em trai nhà ấy đã đi đến chỗ Pụt ở mang đi hai ông đem xuống thác nước Dác Dòn. Ba làng đã chọn ngày Rằm tháng Ba âm lịch đến thác nước Dác Dòn lấy đá cuội đắp lên một mô đất cao, đặt tấm đá phẳng lên làm bàn thờ rồi khấn vái xin đặt hai hòn đá lấy từ lèn ông Pụt lên trên khấn vái thờ cúng Pụt. Từ đó thác nước dác Dòn gọi là thác Pụt. Người Nguồn từ đó rất kiêng kỵ nói từ Pụt vì tôn kính và sợ ngài quở trách. Khi đi cầu cúng Pụt ở bàn thờ thác Dác Dòn thì người Nguồn chỉ nói: “ Ti thác” tức là đi cầu cúng Pụt ở thác Pụt.
          Lập bàn thờ cho Pụt xong, ba làng được yên ổn làm ăn. Từ đó, đến ngày Rằm, mồng một hàng tháng, ông Từ của ba làng trên đến bàn thờ thác Pụt thay nước, thắp hương khấn vái xin cho làng yên ổn. Sau đó cả nguyên Cơ Sa (sau gọi là tổng Cơ Sa) đến xin ngài phù hộ cho dân làng được yên ổn làm ăn. Hàng năm, đến ngày Rằm tháng Ba người Nguồn đem lễ vật (xôi oản, hoa quả) đến bàn thờ Pụt ở thác Pụt làm lễ cầu cúng Pụt phù hộ mưa thuận giáo hòa, núi yên, rú lặng dân làng no đủ và mở hội chợ rằm tháng ba buôn bán, ăn uống, vui chơi chuẩn bị cho mùa tìm ong lấy mật, phát rừng làm nương rẫy, chuẩn bị cho vụ mùa mới. Rồi cứ ba năm một lần, đến ngày Rằm tháng Ba hàng Tổng lại đem lễ vật tinh sạch đến thác Dác Phúng4 làm rạp, đến bàn thờ thác Pụt rước Pụt lên bàn chay cầu Pụt giải oan thập loại chúng sinh phù hộ dân làng no đủ; đồng thời “cầm keo” (xin keo) để Pụt chọn ông Sại (sãi) chăm sóc bàn thờ ở thác Pụt. Làm chay xong dân làng  lại rước Pụt về thờ ở thác Pụt. Khi tháo dỡ rạp cúng Pụt ở Dác Púng không hiểu sao không dỡ được, người nào lên cũng bị tai nạn vì vậy hàng Tổng cho ông Sại cầm keo xin Pụt cho dân làng sửa cái rạp thành cái nhà thờ Pụt ở chỗ cồn đất Dác Púng và từ đó nơi này trở thành nhà chùa thờ Pụt của cả vùng Minh Hóa.
         
Chú thích:
  1. Làng Ang nay ở xã Hồng Hóa, Minh Hóa
  2. Làng Cầu nay ở thôn Tân Kiều, xã Yên Hóa, Minh Hóa
  3. Làng Phoốc Lác nay là làng Yên Đức, xã yên Hóa
  4. Dác Púng: con khe chảy vào Rục Púng; phía hữu ngạn có gò đất cao, nơi có chùa thờ Pụt của người nguồn, nay là nghĩa trang liệt sĩ huyện Minh Hóa
 
          Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: cụ Đinh Phù, 83 tuổi Quy Hóa
cụ Đinh Tường 80 tuổi ở Xuân Hóa Minh Hóa
 
Dị bản: Ngày xưa, cả vùng núi Quy Đạt là một khu rừng rậm có hai anh em ông Ngoi vào rừng hái củi. Hai anh em đi vào một khu rừng đầy hoa thơm cỏ lạ, ríu rít tiếng cim kêu vượn hót. Đến một cửa hang hai anh em Ngoi tò mò đi vào trong họ thấy như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh. Nhiều tượng đá đứng bên vách hang có hình thù kỳ lạ. Nơi như một ông tiên có chùm râu bạc như cước, có bức lại như một hung thần mày ngài hàm én mắt trông dữ tợn. Có bức lại như người con gái mỹ miều. Vốn tính tò mò hai anh em chọ lấy hai hòn đá trông vẻ hiền từ đem về nhà. trên đường về trời tối giữa chừng họ ngủ lại bên một thác nước. Trong giấc ngủ, hai người cùng một giấc chiêm bao thấy hai hòn đá biến thành hai ông tiên hiền từ nói: “ các con có tấm lòng thành đưa chúng ta đến đây. ta sẽ ở đây mãi mãi. Khi cần các con hãy đến với ta, để giúp các con bảo vệ xóm làng” tỉnh dậy hai anh em định lấy hai hòn đá trở về nhà nhưng không làm sao nhấc nổi. Trở về làng họ kể với dân làng nghe câu chuyện về hai hòn đá kỳ lạ trên. Nghe vậy các già làng vội sắm lẽ vật lên nơi hai anh em để lại hia hòn đá thắp hương cúng vái. Năm đó cả làng được mùa no đủ. Từ đó vào đúng ngày rằm tháng Ba hằng năm dân làng lại lên vùng Thác Bụt (nay ở xã Yên Hóa, huyện Tuyên Hóa) cầu an cho dân làng no đủ hạnh phúc. Từ đó người Nguồn Minh Hóa có tục lệ cúng Rằm tháng Ba như một ngày Tết của vùng núi này.
 
Ông Đùng với Thằng Sắt

Tời hơ (đời xưa), mới dựng đất nước, Trời và Đất ở rất gần nhau. Con người trèo một bước là lên đến Trời. Con người làm việc gì Trời cũng biết hết, nói câu gì trời cũng nghe sạch. Con người làm một việc gì hay nói một câu gì mà trái ý trời thì trời tức giận, phạt vạ, khi thì làm mưa to gió lớn nước dâng lên ngập hết nhà cửa, mùa màng, khi thì làm hạn hán kéo dài, người không có nước uống, chết khô.
Một hôm, một chị có đứa con nhỏ mới biết bò ỉa ra bẩn hết cả người. Chị ta kêu lên ba tiếng: “Trời ơi là trời!” Trời nghe tưởng có chuyện gì hệ trọng, trông xuống thấy chị ta vừa lau bẩn cho con vừa kêu trời. Trời tức quá, cho nổi lên sấm chớp, mưa to gió lớn, nhà đổ, nước ngập kéo trôi hết nhà cửa, trôi người, trôi của không kịp trở tay. Con người khổ cực quá, không làm sao được, ngồi lại với nhau mà khóc. Ông Pụt nghe, hiện lên hỏi:
  • Lá pô má các con nhạm? (Vì sao mà các con khóc?)
Con người kể lại sự tình. Ông Pụt nghe thấy thương tình cho hiện ra ông Đùng, người rất to, cao ba mươi sáu trượng. Ông  Đùng cúi xuống, một chân đứng ở đèo Cá Bời1, một chân đứng ở đèo Hung Ton2 rồi đứng thẳng đội trời lên cao, làm cho trời và đất xa nhau. Xong rồi ông Đùng gánh đá lèn đắp chung quanh chống trời, làm cho trời và đất xa nhau mãi mãi. Cho nên mới có các dãy lèn (núi đá vôi) cao. Một lần ông Đùng gánh hai hòn đá lèn to nặng, đòn gánh gãy làm hai, một hòn rơi ở Thác Dài3 thành hòn lèn Thác Dài, một hòn rơi ở Kẻ Xét thành hòn lèn một Kẻ Xét4. Ông Đùng còn giúp cho con người nhiều việc nữa như lấy con c.. của ông bắc cầu cho một đám đưa dâu qua khe khi nước lũ dâng cao v.v.
Nhưng ông Đùng ăn nhiều quá, con người làm hết sức cũng không đủ cho ông. Con người ngồi lại than thở với nhau, mong ông Đùng chết cho đở vất vả dân làng. Nhưng ông Đùng không chết, con người lại ngồi lại với nhau, khóc. Ông Pụt lại hiện lên hỏi:
  • Lá pô má các con lại nhạm ? (Vì sao mà các con lại khóc?)
Con người kể lại sự tình. Ông Bụt nghe, thương tình lại cho hiện ra thằng Sắt cao tám thước với một cái roi sắt rất dài, xeo ông Đùng. Ông Đùng đỗ ngã ra chết.
Ông Đùng chết rồi, xác ông nằm qua xóm nào, người ở xóm đó chặt ra chôn và đào lấy đất đắp mộ thật cao cho ông Đùng. Cho nên đồi núi ngày nay là mộ ông Đùng. Ngày nay ở đèo Cá Pời và đèo Hung Ton vẫn còn dấu chân ông Đùng in trên bàn đá nên gọi là đèo ông Đùng.
Còn thằng Sắt có công xeo ông Đùng chết, con người cũng phải làm ăn mà nuôi nó. Nhưng thằng Sắt ăn cũng nhiều, con người cũng không biết làm thế nào mà nuôi cho nổi, cũng muốn cho nó chết mà không biết làm thế nào được. Con người lại ngồi lại với nhau lại khóc với nhau. Ông Bụt nghe, lại hiện lên hỏi:
  • Lá pô má các con lại nhạm? (Vì sao các con lại khóc?)
Con người kể lại sự tình. Ông Bụt nghe, thương tình bày vẽ cho người gác thằng Sắt lên gác bếp, lấy năm cái nong đậy lại rồi lấy củi chất vào đốt ba đêm, ba ngày. Con người nghe, làm theo, thằng Sắt chảy ra nước chết. Từ đó đến nay, trong dân gian của mình mới có câu:
Ông Đùng băm sáu trượng cao
Thằng Sắt tám tấc mà xeo ông Đùng.
 
Chú thích các địa danh:1- Eo Cá Pời: đèo Cá Pời nay thuộc thôn Yên Phú, xã Trung Hóa, huyện Minh Hóa.
2- Hung Ton: Đèo Hung Ton, nay thuộc thôn Yên Thọ, xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa.
3-Thác Dài nay thuộc thôn Liêm Hóa, xã Trung Hóa, huyện Minh Hóa.
4- Kẻ Xét nay làng làng Kim Bảng xã Minh Hóa, huyện Minh Hóa.
Người sưu tầm : Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Đinh Tường, 80 tuổi,
Hợp Lợi, xã Xuân Hoá, huyện Minh Hoá.
Dị bản: Về việc chôn cất ông Đùng, đồng bào ở Sạt và Cổ Liêm còn kể thêm: Người Nguồn dưới chôn phải con c…1. ông Đùng nên khi đè xuống, cho đất nện chặt xong thì nó lại bật lên. Lúc đầu mỗi lần đè xuống nện chặt xong, vui mừng nói được rồi, nhưng nói được rồi vừa xong thì c… ông Đùng lại bật lên, cả làng lại kêu không được rồi lại cùng nhau đè xuống nện chặt, nhưng sợ nó bật lên không nói được mà nói án rọi (được rồi), nhưng vừa án rọi thì nó lại bật lên, hoảng quá cả làng lại nói vạ, vạ (không được, không được). Từ khi chôn được c. ông Đùng, người Nguồn dưới có thói quen nói án là được, vạ là không được.
1: Từ tục chỉ bộ phận sinh dục của người đàn ông
Núi đi lấp biển (Rú ti lấp biến)

Đời xưa, mới dựng nước, ở xứ sở của mình đất bằng phẳng nằm giữa núi và biển. Núi và biển xung khắc nhau. Núi khoe núi cao hơn, đông hơn, thế nào cũng lấp cạn được biển. Biển khoe biển sâu, biển rộng mênh mông, thách núi lấp cạn được biển; núi mà kéo đến, biển sẽ nhấn chìm hết. Núi tức quá gọi nhau lại bàn, quyết đi lấp biển cho được. Núi nhờ ông Pụt bày vẽ cho cách đi lấp được biển mà biển không biết gì cả. Ông Pụt không thích núi lấp biển, nhưng lại nể núi nên ông Pụt bảo núi đi đêm, cho một số hòn núi khoẻ đi trước dò đường, còn cả làng núi im lặng mà đi, khi nào nghe con gà trống gáy: Ai mô đứng đó, thì đứng lại, hễ đi là bị lộ, biển biết nó sẽ nhấn chìm chết hết.
Nghe lời ông Bụt bày vẽ, cả làng Núi đêm ấy cho một số hòn núi khoẻ đi trước dò đường, còn cả làng núi âm thầm kéo đi sau để về lấp biển. Số hòn núi đi dò đường, đi nhanh hơn đến biển đã lâu. Còn cả làng núi đông nên đi chậm chạp, vừa đến ngang xứ sở của mình ở đây thì vừa nghe con gà trống gáy:
  • Ai mô đứng đó! Ai mô đứng đó!
Thế là nhớ lời Bụt dặn, cả làng núi đứng lại, chỉ còn số hòn núi đi dò đường đến biển trước không còn đường về nữa, đứng một mình giữa biển thành các hòn đảo, gọi là hòn Núi Dò.
Từ đó núi và biển xa nhau, ở xứ sở Minh Hóa của mình có nhiều núi, không có đồng bằng và không có biển.
Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Đinh Khoa, 98 tuổi
Hợp Lợi, xã Xuân Hoá, huyện Minh Hoá.
Nguồn gốc các dân tộc anh em

Trời đất sinh ra có lèn, có núi, có đất, có nước, có cây cối, có các loài vật, có con người. Người đông, tìm cái ăn khó khăn. Buổi ấy, có hai vợ chồng mới lấy nhau, nhà rất nghèo. Hai vợ chồng xuống khe suối đào hang, bắt cua đá nhưng cua đá không có. Họ bắt được con thuồng luồng. Hai vợ chồng mừng khôn xiết, đem về nhà hỏi người trông nhà:
  • Con này ăn được không?
Trong nhà có bố mẹ và một người em trai, một người em gái. Người em trai bảo anh chị thả cho con thuồng luồng xuống nước, đừng ăn. Người mẹ thì bảo:
  • Chỉ ăn thân, đừng ăn đầu.
Còn người bố thì bảo:
  • Ăn cả, đầu cũng ăn.
Người em trai bảo với em gái:
  • Họ ăn thì ăn, còn tao với mày đừng ăn.
Nghe bố bảo, hai vợ chồng làm thịt con thuồng luồng ăn. Còn người em trai và người em gái không ăn. Ăn hết thân mình con thuồng luồng, hai vợ chồng bổ cái đầu để ăn thì não của con thuồng luồng phun ra thành nứơc chảy lênh láng ngập lên đến trời, kéo trôi hết đất đai, cây cối. Người và các loài vật chết sạch. Chỉ có người em trai và người em gái không ăn thịt con ma nhà dác thì được ông Bụt hiện lên bày vẽ cho hai anh em lấy thân cây chuối làm bè ngồi vào mà đi. Hai anh em lấy thân cây chuối làm bè ngồi vào mà đi theo nước lên đến trời. Ông trời thương, cho hai anh em cái gươm chống bè đi. Ông trời còn dặn hai anh em:
- Nghe gươm vấp đá, thế là nước đã cạo, lên đá lèn tìm hang mà ở.
Hai anh em lấy gươm chống bè đi rồi ngủ quên. Đến khi nghe lưỡi gươm vấp đá, hai anh em tỉnh dậy thấy nước đã cạn nhưng chỉ có đá lèn, không có gì hết. Hai anh em lên đá lèn tìm hang ở nhưng không có đất, không có gì để ăn cả.
Buổi ấy ông trời bèn vất gỗ mục và một gói giun đất, một gói mối xuống. Giun đất và mối ăn gỗ mục, rồi ỉa ra thành đất. Có đất rồi, trời thả gỗ xuống cho hai anh em làm nhà ở, thả cây lúa, cây ngô xuống cho hai anh em làm ăn. Để có thêm người, trời nhờ Bụt làm sao cho hai anh em lấy nhau sinh con, sinh cháu. Một đêm, ông Bụt hiện lên dắt người em gái đến nằm với người anh trai thì người anh trai tỉnh giấc, hỏi:
  • Vì sao mày sang nằm với tao?
Em gái mách lại với anh trai:
  • Tôi đương ngủ, nghe có người dắt sang đây nằm.
Nghe như thế, người anh trai đuổi người em gái về chổ mình mà ngủ. Một đêm khác, ông Bụt hiện lên dắt người anh trai sang nằm với người em gái thì người em gái tỉnh giấc hỏi:
  • Vì sao anh sang nằm với tôi?
Anh trai mách với em gái:
  • Tao đương ngủ, nghe có người dắt tao sang đây nằm.
Thế là người anh trai về lại chỗ mình nằm ngủ. Hai anh em không chịu lấy nhau. Một buổi sáng, em gái quét nhà, anh trai ngồi ăn trầu, vứt bả trầu dính vào bắp vế của em gái. Chổ bắp vế em gái bã trầu dính vào bèn sinh ra một cái trứng. Cái trứng nở ra 3 người con trai: người con trai đầu ở trên núi làm ăn để canh giữ hổ dữ cho các em, thành ra người Mày; người con trai thứ hai xuống ở dưới chân núi làm ăn thành người Nguồn mình; còn người con trai út về dưới đồng bằng ở làm ăn thành ra người Kinh.
Từ đó mới có người Mày, người Nguồn, người Kinh như ngày nay.
Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Đinh Khoa, 98 tuổi,
ở Hợp Lợi, xã Xuân Hoá, huyện Minh Hoá
 
Người Nguồn, người Mày là anh em

Ngày xưa, có hai vợ chồng sinh được hai đứa con trai. Hai anh em lớn lên, cha mẹ hỏi vợ lập gia đình cho hai con xong thì cha mẹ đều chết cả.
Vợ chồng người anh trai chỉ cho vợ chồng người em trai một cuốn sách của cha. Còn mình lấy tất cả gia tài của cha mẹ để lại, họ làm ăn giàu có, sinh ra nhiều con, rồi con sinh ra cháu ra thành người Nguồn mình.
Vợ chồng em trai lấy cuốn sách của cha rồi đem nhau đi theo ngọn nước lên ở trên núi cao phát rừng làm rẫy, sinh con, sinh cháu thành người Mày. Vợ chồng người em trai nhờ một ông thầy thông chữ xem cuốn sách của cha để lại. Ông thầy cho biết đây là cuốn sách phù phép thổi trừ ma, chữa bệnh. Ông thầy đã dịch và dạy lại cho người em. Vợ chồng em trai lại dạy lại phù phép đó cho con cháu mình.
Từ đó mới sinh ra: người Nguồn mình thì ở vùng thấp, làm ăn giàu có nhưng không có phù phép thổi. Còn người Mày ở đầu ngọn nước trên núi cao, làm ăn vất vả thiếu thốn, nhưng lại nhiều phù phép thổi trừ ma, chữa bệnh.
Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Cao Mại, 65 tuổi,
ở Hồng Minh, xã Quy Hoá, huyện Minh Hoá.
Vùng núi Cơ Sa

Ngày xửa, ngày xưa khi dựng đất, dựng nước có trời xanh, đất cao, núi thẳm, biển nước mênh mông. Trời xanh có người Tiên của nhà trời ở và làm ăn. Biển nước mênh mông có người Rồng dưới nước ở và làm ăn. Còn đất cao rừng thẳm nhiều cây cối um tùm nhưng chưa có người ở. Người Tiên của nhà trời thường sà xuống đất cao núi thẳm dạo chơi. Người trên trời và người dưới nước gặp nhau chơi với nhau vui vẻ.
Tốp nhà Tiên của nhà trời có người con gái của vua nhà trời tên là Âu Cơ. Tốp người Rồng của Nhà Dác có người con trai của vua Nhà Dác tên là Lạc Long Quân. Hai người chơi thân với nhau rồi lấy nhau. Rồi Lạc Long Quân rẽ nước dẫn Âu Cơ về cung của vua Nhà Dác ở dưới biển ăn ở với nhau. Âu Cơ có mang sinh ra một trăm cái trứng, nở ra một trăm người con trai. Nhưng Âu Cơ là con nhà trời không ở dưới nước mãi được, các con sinh ra cũng không biết hoá Rồng và ở dưới nước với ông được. Nên Âu Cơ xin Lạc Long Quân cho năm mươi người con đi theo mình lên núi rừng, nơi trước đây mình sà xuống chơi để các con ở và làm ăn. Còn năm mươi người con theo Lạc Long Quân cũng không ở dưới nước với bố được, nên cho lên đồng bằng dọc bờ biển làm ăn.
Năm mươi người con theo mẹ Âu Cơ lên núi rừng ở làm ăn thành ra người miền núi Nguồn, Sách, Mày của mình, Còn năm mươi người con theo bố Lạc Long Quân ở đồng bằng làm ăn thành ra người Puôn (người Kinh) hay còn gọi là người Hạ Bạn.
Từ đó, chỗ mẹ Âu Cơ sa xuống chơi lấy Lạc Long Quân rồi đem con lên ở và làm ăn gọi là núi Cơ Sa.
Chính vì thế vùng Minh Hóa ngày xưa còn có tên là Tổng Cơ Sa
Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Đinh Khoa, 98 tuổi,
ở Hợp Lợi, xã Xuân Hoá, huyện Minh Hoá.
 
Thần Đò Mỏ
Tờ hơ (ngày xưa), có ông Đò Mỏ, người Nguồn của mình, giỏi võ nghệ, có tài bắn cung nỏ. Buổi ấy có giặc đến cướp phá vùng biên cương ở phương Nam của đất nước mình. Triều đình cử một ông quan đại thần đem quân đi đánh dẹp đã đến dừng chân tại xóm Sạt (nay là thị trấn Quy Đạt) nghỉ ngơi lấy sức, lấy thêm quân. Ông Đò Mỏ xin đi theo, được quan đại thần chấp nhận, cho đi trước dẫn đường. Ông Đò Mỏ đi trước xông pha trận mạc, giết được nhiều giặc, làm cho quân giặc khiếp sợ, quan đại thần hết sức mến phục. Đánh tan quân giặc, quan đại thần rút quân về kinh đô, có cả ông Đò Mỏ cũng đi theo luôn. Ông Đò Mỏ đựơc quan đại thần gả con gái cho và giao cho ông Đò Mỏ cùng với vợ đem quân về bái lạy tổ tiền rồi đóng đồn luỹ tại Chôông Kè ở gần vực Luỵ qua khe Dác Sạt trấn giữ phương Nam của đất nước cho triều đình.
Vợ chồng ông Đò Mỏ đem quân về tránh giữ tại quê nhà được hơn một năm. Quan đại thần ở kinh đô nhớ con gái và con rể, bèn viết thư cho ông Đò Mỏ, nhủ hai con ra kinh đô chơi với bố mẹ. Vợ chồng ông Đò Mỏ nhận được thư bố mẹ nhưng đang gặp nạn giặc giã ở bên kia tràn sang cướp phá, phải lo đánh dẹp nên không ra kinh đô thăm bố mẹ được. Lần thứ hai vợ chồng ông Đò Mỏ nhận được thư của bố, bảo hai con ra kinh đô chơi với bố mẹ, nhưng lại gặp cảnh vợ ốm nặng nên không đi được. Vì ở nơi rẻo cao hẻo lánh, xa kinh đô hàng vạn dặm đường, tin đồn thất thiệt, sau hai lần gửi thư cho con rể nhưng không thấy con ra chơi, quan đại thần sinh nghi kỵ, cho con rể có ý làm phản, chống lại triều đình. Quan đại thần bèn viết lá thư thứ ba cho con rể và con gái, bảo con gái ở nhà giữ đồn luỹ, còn con rể phải ra gặp bố mẹ cho được. Ông Đò Mỏ áo mũ, cân đai, đeo gươm báu, lên ngựa ra kinh đô. Quan đại thần vốn sẵn lòng nghi kỵ con rể làm phản, nên thấy ông Đò Mỏ đến cổng dinh, xuống ngựa thì ông quan đại thần ra lệnh cho lính gác chém ông Đò Mỏ đầu đứt khỏi cổ ngay. Ông Đò Mỏ uất chí, tỏ lòng trung thành của mình với bố mẹ, với triều đình, bèn lấy đầu nối lại vào cổ, lên ngựa phi thẳng trở về lại đồn luỹ của mình ở Chôông Kè. Đến nơi rồi, ông Đò Mỏ xuống ngựa, dựng cây gươm báu vào cây pặt nàng to rồi ngã ra chết.
Dân làng và vợ ông thương tiếc ông Đò Mỏ, chôn cất ông xong rồi lập miếu thờ ông nơi đồn luỹ của ông ở chân Chôông Kè gần vực Luỵ. Sau đó, theo nguyện vọng dân làng, hương chức làng Sạt lập tờ trình tâu lên nhà vua, được nhà vua cảm kích, phong sắc thần cho ông Đò Mỏ hiệu là Nam phương đương cảnh kim ô đại tướng Đò Mỏ chi thần.
Hiện nay, miếu thờ thần Đò Mỏ đã hư hỏng, nhưng nơi lập miếu thờ ông Đò Mỏ vẫn đang còn.
          Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Đinh Khoa, 98 tuổi, và ông Đinh Tiết,
ở Hợp Lợi, xã Xuân Hoá, huyện Minh Hoá.
 
Thần Lâm Vọ
Ngày xưa, có ông Lâm Vọ, nhà giàu, có lòng thương người. Ở trong xóm trong làng, ai gặp khó khăn, hoạn nạn, được ông Lâm Vọ hết sức giúp đỡ cho tai qua, nạn khỏi. Người già, trẻ em ai ai cũng mến phục, thương yêu ông Lâm Vọ. Năm ấy, ông Lâm Vọ vào khe Sụ lấy lá dong để gói bánh dịp Tết Nguyên đán. Gặp đựơc đám lá dong mọc trên đầm lầy rất tốt, ông Lâm Vọ say sưa vin với lấy lá dong, không may gặp phải hố lầy thụt, bị sụp lầy ngập mất hết cả người, chết luôn. Vợ con ông Lâm Vọ ở nhà không thấy ông về nhờ người đi tìm. Bà con trong xóm đi tìm hết núi này đến núi khác chẳng thấy tung tích ông Lâm Vọ đâu cả. Đến khi đi đến đám lá dong khe Sụ, thấy một đóng là dong vứt lại đó, bèn đi tìm, dấu vết đến chỗ lầy thụt là mất dấu, thế là biết ông Lâm Vọ sụp lầy đã chết. Về sau, tại chỗ lầy thụt này nổi lên một ngôi mộ. Bà con trong xóm đinh ninh đó là mộ ông Lâm Vọ.
          Ông Lâm Vọ chết hoá thành nhân thần rất thiêng. Ai vào xứ Sụ làm ăn, cầu nguyện ông Lâm Vọ, Được ông Lâm Vọ phù hộ cho người mạnh khoẻ, mùa màng làm ăn tốt tươi, thu hoạch bội thu. Từ đó, bà con trong xóm, trong làng có việc gì cũng cầu nguyện ông Lâm Vọ, được ông Lâm Vọ phù hộ xóm làng yên vui, dân làng khoẻ mạnh, làm ăn giàu có.
          Dân làng thương tiếc ông Lâm Vọ, được ông Lâm Vọ phù hộ xóm làng bình yêu, làm ăn thịnh vượng, bèn lập miếu thờ ông Lâm Vọ. Hương chức trong làng làm tờ trình công đức của ông Lâm Vọ tâu lên nhà vua. Nhà vua cảm kích công đức của ông Lâm Vọ đã phong sắc thần cho ông hiệu là Đông phương đương cảnh Lâm Vọ chi thần.
          Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Đinh Tường, 80 tuổi,
ở Hợp Lợi, xã Xuân Hoá, huyện Minh Hoá
 
 
 
 
 
 
 
Hang Vua Son
          Đời xưa ở Phôốc Lác có hai ông người Cọi gọi là Vua Son và Trấn Quắc. Hai người làm bạn với nhau rất thân thiết, ăn gì cũng có nhau, đi đâu cũng đi với nhau. Nhưng vợ ông Vua Son lại ngoại tình với ông Trấn Quắc. Hai người bàn nhau tìm cách giết ông Vua Son để lấy nhau.
          Buổi đó, trên miệng hang lèn Ngang có tổ ong mật to. Ông Trấn Quắc rủ ông Vua Son cùng mình đi lấy tổ ông mật đó. Hai người lên đến chóp lèn, bó bối, làm thang dây xong rồi thả thang dây xuống. Ông Trấn Quắc bảo Vua Son:
  • Bạn xuống đánh ong. Tôi ở trên này giữ thang dây cho.
Ông Vua Son tin bạn, mang bối và giỏ lần theo thanh dây xuống, đến ngang tổ ong, buộc mình vào thang dây rồi nhún đưa thang vào tổ ong. Ở trên chóp lèn, ông Trấn Quắc sờ nghe hai dây thang đu đưa mạnh, bèn chặt dây thang, nhưng mới chặt đứt một dây, thang tụt nghiêng. Vua Son biết như thế là mình đã mắc lừa Trấn Quắc, biết mình thế nào cũng chết nên kêu “Hỡi trời!” ba tiếng rõ to thì cũng vừa thang dây đứt, Vua Son rơi xuống đá bị chết,
Anh em của Vua Son ở nhà nghe Vua Son kêu “Hỡi trời!” ba tiếng biết thế nào Vua Son cũng bị hại, nên gọi nhau chạy sang. Anh em của Vua Son đi đến suối nước, qua đèo thì nghe Trấn Quắc vừa đi vừa hát, bèn nấp kín, chặn đường đập Trấn Quắc chết luôn.
Vua Son chết hoá thành nhân thần rất linh thiêng lên ở trên hang lèn Ngang. Dân làng không biết, nên con gái mặc yếm đỏ đi ngang cửa hang lèn Ngang về nhà ốm đau mà chết. Dân làng đến làm mùa xứ đó thì bị voi và lợn rừng phá hết, hổ thì vào nhà bắt người đem vào rừng ăn thịt, làm náo động cả xóm làng. Làng cho người đi tìm thầy bói khắp nơi. Các ông thầy đều nói như nhau là: ở chổ ấy có một ông bị bạn hại, hoá thành nhân thần, đòi làng lập miếu thờ. Nhưng làng không ai biết hiệu người là gì cả. Làng bèn lập đàn cầu vong, đồng lên xưng danh ngài là Vua Son chi thần. Làng Phôốc Lác lập miếu thờ Vua Son. Chức sắc trong làng lập tờ trình lên tâu nhà vua, được nhà vua phong sắc thần Đông phương đương cảnh, Vua Son chi thần. Lần tế miếu đầu tiên, thần Vua Son ứng đồng lên bảo làng đóng thêm một bộ vì, gác thêm một mâm xôi cho Trấn Quắc vì Trấn Quắc đã hãm hại Vua Son, nên Vua Son bắt đi theo làm đầy tớ, phải cho nó ăn. Từ đó, mỗi lần làng làm lễ tế thần hoặc chạp miếu hàng năm, ngoài mâm chính bỏ trong miếu cho Vua Son thì thêm một mâm đóng cho Trấn Quắc.
Cũng từ đó xóm làng Phôốc Lác yển ổn làm ăn, hang lèn Ngang mới gọi là hang Vua Son.
Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông ĐinhKim Tiến, 65 tuổi và ông Đinh Thông, 77 tuổi
 ở Yên Đức, xã Yên Hoá, huyện Minh Hoá

Hang mụ Tá Bạc
Đời xưa, có một ông trong xóm làm bạn với chồng bà Tá Pạc. Bà Tá Pạc rất đẹp. Anh bạn này muốn lấy bà Tá Pạc mà không làm thế nào được vì có chồng bà Tá Pạc.
Buổi ấy, ở trên miệng hang lèn có tổ ong mật to. Ông bạn rủ chồng bà Tá Pạc đi đánh tổ ong mật trên miệng hang lèn đó. Hai người trèo lên đến chóp lèn, bó bối, làm thang dây xong, ông bạn nhủ chồng bà Tá Pạc xuống đánh ong, còn mình ở trên chóp lèn giữ thang. Chồng bà Tá Pạc theo thang dây xuống đánh ong để lấy mật. Ông bạn ở trên chóp lèn chặt đứt thang dây. Chồng bà Tá Pạc rơi xuống đá lèn chết. Ông bạn này vui mừng đi về, vào ngay nhà bà Tá Pạc. Bà Tá Pạc hỏi ông bạn:
  • Bạn về, còn chồng tôi đâu rồi?
Ông bạn mách với bà Tá Pạc:
- Ông bạn không may sẩy thang dây chết rồi. Xin bạn cất cơn buồn, về ở với tôi mà làm ăn.
Bà Tá Pạc nói lại với ông bạn:
- Phận tôi sinh ra như thế này rồi thì ông bạn đem tôi đến chỗ chồng tôi rơi xuống chết cho tôi trông mặt chồng tôi một tí. Rồi tôi đi theo ông bạn làm ăn.
Ông bạn nghe bà Tá Pạc nói như thế nghe cũng phải, bèn đem bà Tá Pạc đi đến chỗ chồng bà Tá Pạc rơi xuống chết chỉ cho bà xem. Ông bạn đi sau, đứng ngoài xa, tay chỉ, miệng cứ nói: “Đó, đó”. Bà Đá Bạc lại nói:
- Chồng tôi rơi chết chỗ nào? Ông lại chỉ cho tôi xem, chứ ông đứng ngoài mà “đó, đó” thì tôi biết chỗ nào?
           Ông bạn đi đến chỉ. Thế là bà Tá Pạc choàng lấy cổ ông bạn độc ác, kéo nhảy xuống lèn đá đứng chết luôn cả hai người.
          Bà Tá Pạc chết hoá thành nhân thần lên ở trên hang lèn đá trắng. Buổi đầu, bà ở dưới hang. Hang dưới bị người phá phách quá, bà Tá Pạc dịch lên ở trên hang cao nhất gần chóp lèn. Bà Tá Pạc rất linh thiêng. Ai đi ngang qua hang chỉ tay vào hang nói: “Bà Tá Pạc” thì về nhà bị đau, què tay ngay. Làm mùa ở xứ đó, có cơm canh cúng cầu bà Tá Pạc là yên ổn, mùa màng tươi tốt không có chim muông gì phá hết. Hễ trên miệng hang thấy bà Tá Pạc phơi áo đỏ là trời sắp mưa, thấy bà Đá Bạc phơi áo trắng là trời nắng ráo. Bà Tá Pạc được dân làng lấy làm thần tứ cận của làng với hiệu thần là Tá Pạc chi thần. 
          Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Đinh Vần, 60 tuổi,
 ở Hợp Lợi, xã Xuân Hoá, huyện Minh Hoá
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lèn Mệ Ngó

Đời xưa, có hai vợ chồng lấy nhau, sinh được một đứa con gái. Chồng chết sớm. Vợ ở vậy nuôi con, thờ chồng. Đứa con gái lớn lên chừng nào tốt đẹp chừng đó. Tiếng đồn đến tận tai nhà vua ở kinh đô. Nhà vua cho lính vào bắt đứa con gái về làm hoàng hậu, bảo bà mẹ cùng đi luôn. Nhưng bà mẹ không chịu đi theo. Lính của vua bắt đứa con gái đem đi về cho vua. Bà mẹ thương tiếc con, cứ tìm hòn lèn cao trèo lên ngó (nhìn) theo con gái. Con gái đi xa chừng nào thì bà mẹ ngó theo chừng ấy. Bà mẹ trèo lên đến chóp lèn thì đứa con gái cũng bị lính đem đi khuất, không thấy đâu nữa. Bà mẹ ngất, ngã xuống chết tại một thung lũng rộng dưới chân hòn lèn ấy.
Bà mẹ chết hoá thành nhân thần ở tại hòn lèn và thung lũng ấy. Ai vào thung lũng ấy làm mùa, có cơm canh cúng cầu Mệ Ngó phù hộ thì mùa màng yên ổn, tốt tươi, được ăn. Từ đó dân làng mới gọi hòn lèn ấy là lèn Mệ Ngó. Thần Mệ Ngó cũng được xóm làng lấy làm thần tứ cận của xóm làng với hiệu là Mệ Ngó chi thần.
Người sưu tầm : Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Đinh Ngư, 98 tuổi,
 ở Yên Đức, xã Yên Hoá, huyện Minh Hoá
 
 
Đồng Quan Lang
Đời xưa, có ông Quan Lang, nhà giàu có. Buổi ấy, ở xứ Pà Cố đang còn rừng rậm, có tổ ong chành. Ông Quan Lang bèn nuôi tổ ong chành đó. Hằng ngày, ông Quan Lang cho đầy tớ đem thịt bò đến để nơi miệng tổ ong cho ong chành ăn.
Một hôm, ông Quan Lang muốn xem tổ ong chành to đến mức nào, đã đào lấy ăn được chưa, bèn tự mình đem thịt bò đến cho ong chành ăn. Ông Quan Lang đi xung quanh tổ ong chành xem tổ ong chành to chừng nào. Tổ ong chành to lắm, khoét đất ra rộng. Nhưng ong Quan Lang không biết, nên ông bị sập xuống giữa tổ ong chành, bị cả tổ ong chành đốt. Ông Quan Lang chết luôn tại tổ ong chành. Về sau, tại tổ ong chành có nổi lên một ngôi mộ, xóm làng gọi đó là mộ Quan Lang. Xứ rừng Pà Cố có mộ ông Quan Lang được dân làng khai khẩn thành đồng ruộng làm ăn. Ông Quan Lang chết hoá thành nhân thần, đòi dân làng lập miếu thờ ông Quan Lang tại một bên mộ của ông. Hiện nay, ở đồng Pà Cố còn một lùm cây, có mô đât cao. Đó là mộ ông Quan Lang và nền miếu thờ ông Quan Lang.
Từ đó, dân làng gọi đồng đất đó là đồng Quan Lang.
Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
Người kể: Ông Đinh Khoa, 98 tuổi, và ông Đinh Tiết, 78 tuổi,
ở Hợp Lợi, xã Xuân Hoá, huyện Minh Hoá
 
Ông Địa Linh, Địa Phủ
              
Đời xưa, có hai anh em trai, mẹ chết sớm, bố lấy mẹ ghẻ được một thời gian, bố cũng chết luôn. Hai anh em ở với mẹ ghẻ, nhác cày bừa làm ăn, chuyên đi khắp mọi rừng, mọi thung lũng tìm mây, nâu, ong lấy mật về đổi lấy ngô, lúa đem về ăn. Mẹ ghẻ thấy vậy bèn đặt tên cho hai anh em là Địa Linh và Địa Phủ.
Buổi ấy, ở Rục Pôộc có ông Tạo Nẹt nổi lên, lấy ván lim chắn Rục Pôộc làm biển, nước dâng lên gần đến làng Sạt, rồi xưng vua, ăn thuế vùng Kim Linh và Cơ Sa nguyên đã ba năm. Dân làng gọi là vua Rục Pôộc. Tin này thấu đến triều đình ở kinh đô. Nhà vua cho tướng đem quân vào dẹp. Đến nguyên Cơ Sa, nước ngập, không có đường đi xuống Pôộc nữa, tướng triều đình bảo Cai nguyên Cơ Sa đòi dân làng Sạt đến hỏi:
- Ở đây có ai biết đường nào tránh được nước đi đến chỗ ở của vua Rục Pôộc không?
Trong đám dân làng có tiếng nói:
- Anh em chúng tôi biết.
Mọi người nhìn lại thì thấy hai anh em ông Địa Linh - Địa Phủ. Tướng triều đình và Cai nguyên gọi hai người lên hỏi:
  • Làm thế nào mà hai ông biết được đường?
Ông Địa Linh - Địa Phủ tâu:
- Chúng tôi đi làm mây, tìm nâu, tìm ong, đã gặp cái hang đi thủng ra hung Pôộc. Chúng tôi đang còn nhớ.
Tướng triều đình lại hỏi:
- Đi mấy đêm thì ra đến hung Pôộc?
Ông Địa Linh - Địa Phủ lại tâu:
- Dạ bẩm quan! Đi một đêm, đến gà gáy thì ra đến.
Tướng triều đình và Cai nguyên bảo hai anh em ông Địa Linh, Địa Phủ dẫn đường, đánh tan đạo tặc rồi muốn gì cho nấy. Hai anh em ông Địa Linh, Địa Phủ nói quan quân triều đình sắm cho mỗi người hai bó đuốc, mỗi bó dài hai sải trở lên. Rồi đêm ấy, hai ông Địa Linh, Địa Phủ dẫn quan quân triều đình đi. Đi gần hết mười hai bó đuốc, gà đã gáy rồi mà chưa đến hung Pôộc. Tướng triều đình đòi chặt đầu hai ông Địa Linh, Địa Phủ. Hai ông lạy, tâu:
- Xin ông cứ đi đã. Vì mình đông người nên đi chậm.
Tướng triều đình nghe có lý, cho quân đi thêm một lúc nữa thì ra đến hung Pôộc. Trời vừa tảng sáng. Trong sang làng Pôộc, nước mênh mông, thấy bên kia có nhiều đò. Tướng triều đình cho người bí mật bơi sang lấy đò, chở quân lính đến quân vua Rục Pôộc. Chung quanh dinh vua Rục Pôộc nước bao bọc hết. Lính gác đang ngủ say. Quân triều đình xông lên giết chết lính gác thì chó sủa. Nghe chó sủa, vua Rục Pôộc mỗi tay một thanh gươm, lên ngựa ra chặt vườn chuối cho thoáng để đánh lại. Nhưng không may, một thanh gươm mắc vào gốc chuối, vua Rục Pôộc cúi xuống nhổ thanh gươm thì vừa bị ông tướng triều đình xông đến chém chết. Chém chết vua Rục Pôộc rồi, ông tướng triều đình cho người lặn xuống Rục Pôộc bẩy đi được một tấm ván lim, lúc ấy nước mới rút cạn, làng Pôộc làng Trèm, làng Xét mới có đất làm ăn. Nhưng còn một tấm ván lim ở quá sâu, không bẩy được. Cho nên đến mùa mưa lũ làm cho làng Pôộc năm nào cũng bị ngập lụt ít ra cũng vài ba ngày.
Dẹp xong giặc vua Pôộc, tướng triều đình hỏi hai ông Địa Linh, Địa Phủ có công dẫn đường, giúp triều đình dẹp được giặc vua Rục Pôộc, đem lại thái bình cho dân làng, bây giờ hai ông muốn phong chức tước gì để cấp bổng lộc, thì hai ông tâu:
- Dạ bẩm quan! Chúng tôi là dân cày làm ăn. Mẹ chúng tôi đã đặt tên cho chúng tôi là Địa Linh, Địa Phủ. Nên xin nhà vua cứ phong cho chúng tôi là Địa Linh, Địa Phủ là được.
Thế là hai ông Địa Linh, Địa Phủ được nhà vua phong tước Địa Linh, Địa Phủ. Sau này hai ông chết, được làng Sạt lập miếu thờ, được nhà vua phong sắc thần hiệu là Đức ông tiên hiền khai khẩn chi thần của làng Sạt.
Người sưu tầm: Đinh Thanh Dự
                                          Người kể: Ông Đinh Hảo và ông Đinh Phù,  
 ở làng Sạt, xã Quy Hoá, huyện Minh Hoá.

Động Tú Làn
 
Vùng hang động Tú Làn nằm trong khu rừng tự nhiên thuộc xã Tân Hóa, cách trung tâm xã khoảng 5 km về phía đông. Tại đây đã lưu truyền một truyền thuyết kể rằng:
          Ngày xưa đây là một vực nước sâu, cá nhiều như đá núi, to bằng bắp chân, dân làng thường đến nơi này bắt cá nuôi sống gia đình. Một hôm có hai chị em đi hái củi, người em thấy một bông hoa đẹp lung linh giữa dòng nước trong xanh, thích quá thò tay xuống vớt không may ngã xuống dòng nước xoáy bị nước cuốn trôi. Người em kêu lên thảm thiết “ Chị ơi, cứu em” vang vọng khắp lèn đá. Người chị đang hái củi ở lèn bên thấy vậy nhảy xuống dòng nước để cứu em nhưng bị nước cuốn vào hang. Tiếng vọng của người em vang khắp núi rừng và người chị cứ theo tiếng vọng đó mà đi hoài, đi mãi. Hồn hai chị em biến thành hai dòng suối. Bắt đầu từ Ba Nương dòng suối chị em chảy uốn lượn quanh thị trấn Quy Đạt đến chân lèn Ton thì bị chắn lại rẽ làm hai hướng. Một nhánh của người em chảy ngầm qua núi tới thung lũng La Ken rồi đổ ra hung Đụng. Một nhánh của người chị chảy vào chân lèn Ton rồi đổ ra hang Tố Mộ. Hai chị em vẫn chưa gặp nhau, đến thung lũng Tú Làn, nơi có hoa thơm cỏ lạ thì người chị gặp người em, hai dòng suối nhập lại với nhau đổ về động Tú Làn. Trong động Tú Làn ngày nay người ta còn thấy những mái tóc dài của hai chị em còn in trên vách đá và xung quanh là những cảnh tiên phật của chốn bồng lai, đầy hoa thơm cỏ lạ. Thung lũng và động Tú Làn là một thắng cảnh đẹp của vùng Minh Hóa.
          Người sưu tầm: Nguyễn Đăng Danh
Theo lời kể của các già làng xã Tân Hóa
Từ khóa: n/a

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Việc ứng dụng CNTT vào dạy học mang lại hiệu quả như thế nào?

Tốt

Khá

Trung bình

Không mang lại hiệu quả

Liên kết website




Danh Ngôn

Tình yêu:Tình yêu là một tình cảm vĩ đại nhất, nó sáng tạo nên điều kỳ diệu, sáng tạo nên những con người mới, nó làm ra những giá trị vĩ đại nhất của con người.Makarenko

Liên kết

Đảng Cộng Sản
Chính phủ
Bộ GD-ĐT
Sở GD-ĐT Quảng Bình
Thư viện giáo án
Hòm thư điện tử