Giới thiệu địa chỉ sửa chữa máy bơm nước, sửa chữa điện nước, sửa điện nước, sửa chữa điện nước tại nhà, thông tắc chậu rửa bát và cung cấp mua bán phụ tùng xe howo chính hãng chuyên nghiệp, uy tín, được nhiều bình chọn tin dùng tại Hà Nội

22:16 ICT Thứ sáu, 19/07/2019
Tập thể CB - GV - NV và Học sinh trường THCS và THPT Hóa Tiến thi đua Dạy tốt - Học tốt

Tin tức

Tổ chức

Tra cứu thông tin

Tài nguyên

Tiện ích

Facebook trường

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 12


Hôm nayHôm nay : 637

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8199

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1342413

Trang chủ » Tin Tức » Tin tức » 410 năm hình thành tỉnh Quảng Bình

thcsvathpthoatien.edu.vn

QUẢNG BÌNH TRONG CỤC DIỆN ĐÀNG TRONG - ĐÀNG NGOÀI

Thứ sáu - 03/01/2014 10:44
I. DƯỚI THỜI CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG
 
Đầu thế kỷ XVI, triều Lê bắt đầu suy vong. Triều đình và bộ máy quan lại ngày càng hủ bại, ruỗng nát. Các vua Lê và triều thần ăn chơi sa đoạ, xây dựng lâu đài cung điện rất tốn kém làm cho đời sống dân chúng vô cùng khốn khổ. Nhân dân mỉa mai gọi Uy Mục (1505-1509) là "vua quỷ" và Trương Dực là " vua lợn". Đó là chế độ chuyên chế mà:" tước đã hết mà lạm thưởng không biết, dân đã cùng mà lạm thu không cùng. Phu thuế thu đến tơ tóc mà dùng như bùn đất, bạc nhược như Tần Chính, đãi công thần như chó ngựa, coi dân như cỏ rác"[1]. Trước tình hình đó nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp mọi nơi, kéo dài làm lung lay tận gốc chế độ nhà Lê. Trong lúc đó, các cuộc tranh giành, thoán đạt giữa các phe phái phong kiến diễn ra gay gắt.
  Năm 1527, tập đoàn phong kiến do Mạc Đăng Dung cầm đầu thắng thế, phế truất triều Lê, lập ra triều Mạc. Họ Mạc vừa lên nắm quyền thì các phe phái phong kiến đối lập nấp dưới chiêu bài khôi phục triều Lê nổi lên ở nhiều nơi. Cuối cùng, một viên tướng cũ của triều Lê là Nguyễn Kim ra sức tập hợp các thế lực chống Mạc, rồi chiếm giữ vùng Thanh Hoá, Nghệ An lập thành một chính quyền riêng dưới danh nghĩa là "Triều Lê trung hưng". Vua Lê chỉ là bù nhìn, quyền hành thâu tóm trong tay họ Nguyễn. Năm 1545 Nguyễn Kim chết, quyền hành lại lọt vào tay con rể là Trịnh Kiểm.
  Cuộc xung đột giữa các phe phái phong kiến đã đưa đến hậu quả đất nước bị chia cắt làm hai miền. Họ Mạc thống trị vùng Bắc Bộ gọi là Bắc Triều và họ Trịnh nắm quyền hành từ vùng Thanh Hoá trở vào gọi là Nam Triều. Đất nước lâm vào một cuộc nội chiến kéo dài giữa hai tập đoàn phong kiến thống trị đó suốt hơn nửa thế kỷ.
  Năm 1592 Nam Triều thắng được Bắc Triều và chiếm được Thăng Long nhưng các thế lực của họ Mạc vẫn chiếm giữ nhiều nơi, tiếp tục chống lại họ Trịnh trong một thời gian dài và sau đó rút lên Cao Bằng cho đến những năm 70 của thế kỷ XVII.
  Trong lúc đó, tại vùng phía nam của đất nước, từ trước khi cuộc chiến tranh Nam- Bắc triều kết thúc bắt đầu hình thành một cuộc chiến tranh mới còn ác liệt và kéo dài giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh- Nguyễn mà vùng đất Quảng Bình ngày nay đã trở thành chiến địa.
  Nguyễn Hoàng là con thứ hai của Nguyễn Kim, mẹ là Nguyễn thị, sinh ngày Bính Dần, tháng 8 năm Ất Dậu, đời Lê Thống Nguyên thứ 4 ( 1525). Năm Nguyễn Kim tránh sang Lào thu nạp hào kiệt "nuôi chí" khôi phục nhà Lê thì Nguyễn Hoàng mới hai tuổi. Nguyễn Kim gửi cho Thái phó Nguyễn Ư Dĩ là anh vợ nuôi. Lớn lên, Nguyễn Hoàng là người thông minh tài trí. Nguyễn Ư Dĩ thường đem việc kiến lập công nghiệp khuyến khích cháu. Nguyễn Kim mất, vua Lê phong Nguyễn Hoàng là Hạ Khê hầu, cầm quân đánh nhà Mạc. Đến đời Lê Trung Tông, vì có công được tiến phong Đoan quận công.
  Bấy giờ, Trịnh Kiểm, con rể của Nguyễn Kim nắm binh quyền, giữ chức Hữu tướng , quyết định mọi việc đã tìm cách hãm hại Tả tướng là Lã quân công Nguyễn Uông, con của Nguyễn Kim và có ý nghi kỵ, mưu hại Nguyễn Hoàng. Truyền thuyết kể lại rằng, biết âm mưu của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng cho người đến hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Kiêm là người giỏi thuật số. Trạng Trình không đáp chỉ nhìn hòn non bộ trước sân, rồi nói:" Hoành sơn nhất đại, vạn đại dung thân" ( một dãy núi ngang, có thể dung thân muôn đời). Sứ giả về thuật lại, Nguyễn Hoàng hiểu ý nhờ chị là Ngọc Bảo vợ của Trịnh Kiểm xin chồng cho em vào trấn thủ Thuận Hoá. Đất Thuận Hoá vừa được nhà Lê lấy lại từ tay nhà Mạc, lòng dân chưa quy phục lắm, Trịnh Kiểm chấp nhận lời thỉnh cầu của vợ. Đưa Nguyễn Hoàng vào nam vừa có người đối mặt với người của họ Mạc vừa loại bỏ được một đối thủ ở nơi lam sơn chướng khí. Trịnh Kiểm dâng biểu lên vua Anh Tông: " Thuận Hoá là đất hình thế quan trọng, binh, tài, do đó mà ra, hồi quốc sơ nhờ đó mà dựng nghiệp. Nay lòng dân hãy còn phản trắc, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ hoặc có kẻ dẫn giặc về cướp, nếu không được tướng giỏi trấn giữ vỗ về, thì không xong. Đoan quận công là con nhà tướng, có tài trí, mưu lược, có thể sai vào trấn ở đấy để cùng tướng giữ Quảng Nam làm ỷ giốc thì mới khỏi lo đến miền Nam". Vua Lê y lời, trao cho Nguyễn Hoàng trấn tiết, uỷ thác mọi việc, chỉ mỗi năm nạp cống phú mà thôi”[2]
Đời vua Anh Tông, năm Mậu Ngọ (1558) Đoan quận công Nguyễn Hoàng và đoàn tuỳ tùng đổ bộ vào cửa Việt, đóng dinh tại làng Ái Tử ( Quảng Trị ) bắt đầu sự nghiệp ở vùng đất phía nam.
Năm 1569, vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng kiêm luôn trấn Quảng Nam. Từ đó ông đeo ấn Tổng trấn Tướng quân, đặt quân hiệu là dinh Hùng Nghĩa. Vùng đất Đoan quận công Nguyễn Hoàng trấn giữ lúc này gồm hai trấn: trấn Thuận Hóa và trấn Quảng Nam.
Trấn Thuận Hoá có 2 phủ, 9 huyện, 3 châu trong đó vùng đất Quảng Bình có phủ Tiên Bình (trước là Tân Bình) gồm 3 huyện: Khương Lộc ( Khang Lộc), Lệ Thuỷ, Minh Linh và châu Bố Chính
Năm Hoàng Định thứ 5 (1604), Nguyễn Hoàng cải đặt và đổi tên các khu vực hành chính hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam trong đó có việc đổi tên phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình. Lần đầu tiên xuất hiện danh xưng Quảng Bình.
Khi vào trấn giữ Thuận Hoá và sau đó thêm Quảng Nam, Nguyễn Hoàng đã thực thi nhiều chính sách nhằm ổn định vùng đất vốn có nhiều khó khăn lúc bấy giờ.
Về đối nội, trước hết Nguyễn Hoàng tiến hành công cuộc bình định, trấn áp những dư đảng của nhà Mạc và của Trịnh Kiểm.
Trước khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá, ở xã Hoành Phổ, huyện Khương Lộc, có cai tổng tên là Mỹ Lương và hai em là Văn Lan, Nghĩa Sơn dâng thóc cho nhà Lê để xin quan hàm. Thái sư Trịnh Kiểm cho Mỹ Lương làm Cai Tri Lệnh giao cho thu thuế, hàng năm tiến nạp. Anh em Mỹ Lương có công trưng thu thuế nên được Trịnh Kiểm phong tước hầu. Khi Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hoá, Trịnh Tùng mật sai Mỹ Lương tuyển mộ quân lính, thừa dịp đánh úp Nguyễn Hoàng để trừ hậu hoạ. Năm 1571, nhân binh thuyền nhà Mạc đánh Nghệ An, Mỹ Lương mưu toan đem binh lính đánh úp Nguyễn Hoàng. Biết được mưu ấy, Nguyễn Hoàng đã chủ động tiến đánh giết Mỹ Lương, Nghĩa Sơn. Văn Lan chạy trốn về với họ Trịnh ở đất bắc.
Cùng năm ấy, ở Quảng Nam có loạn, thổ mục cướp giết lẫn nhau, Đoan Quận Công sai tướng dẹp yên, thu phục vỗ yên dân chúng.
Đời Anh Tông, năm Hồng phúc thứ nhất (1557), Lập Quận Công Lập Bạo, người Bố Chính, nghe tin Trịnh Kiểm chết liền hàng nhà Mạc rồi đưa 60 binh thuyền vào đánh cướp vùng Thuận Hoá. Lập Bạo đóng quân vùng Hồ Xá đến đền Thanh Tương thuộc phủ Triệu Phong. Nguyễn Hoàng đem quân chống giữ, dùng mưu " mỹ nhân kế" phục binh giết Lập Bạo, đội quân Lập Bạo tan rã xin hàng. Nguyễn Hoàng cho đội quân ấy đất ở Cồn Tiên lập  phường.
Để đối phó với việc quân Mạc thường xuyên vào cướp phá, Nguyễn Hoàng cho xây dựng các đồn binh ở các cửa biển để giữ các miền duyên hải, đặc biệt ở các vùng biển phía bắc thuộc Bố Chính và Tiên Bình.
Trong những năm đầu trấn thủ Thuận Hoá, Nguyễn Hoàng cố gắng giữ quan hệ tốt với vua Lê và chúa Trịnh. Sau một năm trấn thủ, năm 1559, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng ra Thanh Hoá yết kiến vua Lê Anh Tông và Thái sư Trịnh Kiểm ở cung An Trường[3]. Sau khi trở về Thuận Hoá, Nguyễn Hoàng được vua cho kiêm lãnh trấn Quảng Nam. Sau khi đánh tan đội quân Lập Bạo, Nguyễn Hoàng cũng đã sai sứ về Tây Đô báo tin thắng trận.
Khi Thái sư Trịnh Kiểm mất, tất cả quyền hành tập trung vào tay Thái uý Trưởng quốc công Trịnh Tùng. Vua Lê Anh Tông không chịu được sự lộng hành, hống hách của Trịnh Tùng bèn cùng với Lê Cập Đệ bàn mưu trừ Tùng. Việc không thành, vua cùng bốn hoàng tử  chạy vào Nghệ An. Trịnh Tùng cho quân đuổi theo và giết chết vào tháng giêng năm Ất Dậu (1573). Để vỗ yên dân chúng và quân sĩ, Trịnh Tùng lập con thứ 5 của vua Anh Tông là Duy Đàm lên ngôi, tức vua Thế Tông. Tùng còn tặng thưởng các quan lại kể cả việc sai sứ đem sắc phong Đoan quận công Nguyễn Hoàng làm Thái phó. Tuy vậy, Trịnh Tùng vẫn giữ thái độ thù địch, kiềm chế Nguyễn Hoàng. Sau khi Thái sư Trịnh Kiểm mất, Trịnh Tùng đã sai Mỹ Lương mưu đánh Vũ Xương, nay lại sai sứ vào khám đạt ruộng đất vùng Thuận, Quảng để thu thuế. Tuy quan hệ giao tình giữa Trịnh- Nguyễn đã rạn nứt nhưng Nguyễn Hoàng vẫn giữ bổn phận với vua Lê, thu thuế đưa ra giúp đỡ cho triều đình ở Tây đô.
Tháng giêng năm 1592, Trịnh Tùng đem quân đánh nhà Mạc, thu phục được Thăng Long. Năm sau vua Lê trở về Thăng Long, Nguyễn Hoàng đem tướng sĩ, voi ngựa, binh thuyền đến mừng vua Lê và cùng hai con là Lỵ Quận công và Hào Quận công tiếp tục đi đánh nhà Mạc.
Năm 1599 vua Thế Tông băng hà, con là Duy Tân nối ngôi lấy niên hiệu là Thuận Đức tức là vua Kính Tông. Vua Kính Tông phong cho Đoan quận công Nguyễn Hoàng làm Hữu Tướng, Trịnh Tùng được phong Đô nguyên suý, Tổng quốc chính, Thượng phụ Bình An Vương, mở phủ, đặt quan lại riêng, Họ Trịnh bắt đầu thế tập tước vương. Đoan quận công đã ở kinh đô 8 năm mà Trịnh Tùng không để ông trở về trấn. Thấy Trịnh Tùng ngày càng ghen ghét, nghi kỵ, Nguyễn Hoàng bày mưu kế xin đi dẹp loạn ở cửa Đại An rồi đem binh thuyền, tướng sĩ đi thẳng về Thuận Hoá.[4]
Việc Đoan quận công âm mưu rút về Thuận Hoá càng thể hiện quyết tâm ly khai tự lập của Nguyễn Hoàng. Mâu thuẩn họ Trịnh và Nguyễn ngày càng sâu sắt và cuộc chiến tranh xảy ra sau này là điều không tránh khỏi. Sau khi về Thuận Hoá, Nguyễn Hoàng dời dinh từ Ái Tử vào Cát Trấn Quảng nam, xây dựng lực lượng, tích trử lương thực chuẩn bị cho cuộc chiến sau này.
Trong giai đoạn đầu, không chỉ giữ hoà hợp với Trịnh và thần phục vua Lê, Nguyễn Hoàng đã cố gắng quan hệ tốt, tránh xung đột không đáng có với nhà Mạc. Việc đánh Lập Bạo chỉ là hành động tự vệ, vả lại Lập Bạo không phải là một tướng nhà Mạc chính thức sai vào đánh Thuận Hoá mà chỉ là một võ tướng thấy vùng đất này chưa yên, nhân cơ hội đó muốn đánh cướp mưu đồ lợi ích riêng. Trong số những người thân tín cùng Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá trong những ngày đầu có Mạc Cảnh Huống là em ruột của Khiêm Vương Mạc Kính Điển người đã đưa quân vào đánh Thanh, Nghệ năm 1570. Vợ của Mạc Cảnh Huống, bà Nguyễn Ngọc Dương là em vợ Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng và nhờ bà này giới thiệu mà con của Đoan quận công là Nguyễn Phước Nguyên (tức chúa Sãi sau này) đã cưới con đầu của Mạc Kính Điển làm vợ. Sau này chúa Sãi lại gã con gái là Ngọc Liên cho con trai đầu của Mạc Cảnh Huống là Nguyễn Phước Vinh, ông này làm đến Trấn thủ dinh Trấn Biên. Chính mối thân tình thông gia giữa hai gia tộc của họ Nguyễn và họ Mạc đã  giữ cho vùng Thuận, Quảng nói chung và vùng Quảng Bình nói riêng tránh được những cuộc chiến tranh với nhà Mạc.
Trong thời gian trấn thủ vùng Thuận, Quảng, Đoan Quận công Nguyễn Hoàng đã thực hiện nhiều chính sách cải cách phát triển vùng đất phía nam. Dân cư vùng Thuận Hoá bấy giờ gồm những thành phần khá phức tạp. Ngoài đại bộ phận là dân lành, chuyên tâm cày cấy làm ăn  còn nhiều người bị tù đày, du đảng, phiêu lưu du nhập vùng đất mới trong các thời đại trước đây; những người theo nhà Mạc, những thổ hào, thổ tù, và xa hơn nữa là con cháu người Chiêm Thành, Đoan quận công đã cố gắng khai hoá, phủ dụ họ yên ổn làm ăn, khiến họ phục tùng. Sách Thực lục tiền biên chép:" Chúa vỗ về quân dân, nhẹ xâu thuế, dân chúng vui, phục, thường gọi là Chúa Tiên"[5]. Nguyễn Hoàng thự ciện chính sách: " chính trị khoan hoà, thương ra ân huệ, dùng pháp luật công bằng, răn giới bản bộ, cấm kẻ hung dữ, dân hai trấn cảm ân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không hai giá, dân không ăn trộm, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến buôn bán, quân lệnh nghiêm túc, mọi người đều cố gắng, vì vậy không ai dám dòm ngó, dân trong xứ đều được an cư lạc nghiệp"[6] . Chính vua Lê Thế Tông cũng đã phủ dụ:" Ông trấn thủ hai xứ dân nhờ được yên, công ấy lớn lắm". Trong thời kỳ Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Quảng nhiều năm được mùa, trăm họ giàu mạnh. Năm Mậu Thân (1608), được mùa to, mỗi đấu gạo giá 3 đồng. Bấy giờ từ Nghệ An ra bắc bị đại hạn, giá gạo đắt, nhiều dân xiêu dạt vào Thuận Quảng. Đời sống của cư dân lạc nghiệp, Đoan quận công là người  mộ đạo Phật nên đã cho xây nhiều ngôi chùa trên lãnh thổ của mình cũng là để góp phần giáo hoá thiện tâm cho dân chúng trong vùng. Năm Đinh Mùi (1607) cho lập chùa Bửu Châu ở Trà Kiệu (Quảng Nam). Năm Kỷ Dậu (1609) cho dựng chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch (Quảng Bình)[7]. Năm Tân Sửu (1610) cho xây chùa Thiên Mụ thuộc huyện Hương Trà. Năm Nhâm Dần (1611) cho sửa lại ngôi chùa cổ ở Triêm Âm (Phú Vang) đặt tên là chùa Sùng Hoá
Trong thời gian trấn thủ Thuận- Quảng, Nguyễn Hoàng còn có công lớn mở rộng biên cương lãnh thổ về phía nam. Bấy giờ xứ Quảng Nam chỉ vào đến phủ Hoài Nhân và biên giới cực nam là huyện Tuy Viễn, bên kia là đất Chiêm Thành. Năm 1611 Chiêm Thành xâm lấn biên giới, Nguyễn Hoàng sai quân đi đánh lấy đất Phú Yên ngày nay đặt làm một phủ gồm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hoà.
Năm Quý Sửu ( 1613) Nguyễn Hoàng bệnh nặng, trước khi đi ông dặn lại con thứ 6 là Nguyễn Nguyên và thân thần rằng: "Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang ( sông Gianh) hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân, núi Thạch Bi vững bền; núi sinh vàng, sắt, biển có cá, muối, thật là đất dụng võ của những kẻ anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh để chống chỏi với họ Trịnh thì đủ xây dựng sự nghiệp muôn đời; nếu thế lực không địch được thì cố giữ đất đai để đợi thời cơ, chứ đừng bỏ hỏng lời dặn của ta". Nguyễn Hoàng vào trấn thủ hai xứ Thuận, Quảng được 56 năm, thọ 89 tuổi.
Hơn 50 năm dưới thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, phủ Quảng Bình và châu Bố Chính việc khai thiết Quảng Bình đã có bước phát triển. Đây là vùng đất phên dậu của nhà Nguyễn ở phía bắc nên đã được Nguyễn Hoàng coi trọng việc xây dựng các đồn phòng thủ. Với chính sách thu phục nhân tâm, khuyến khích an cư lạc nghiệp của nhà Nguyễn nhiều năm được mùa, đời sống của dân cư được cải thiện. Việc xây dựng lại chùa Kính Thiên trở thành một ngôi chùa lớn nhất phủ Quảng Bình chứng tỏ đời sống của người dân nơi đây được an bình và đất Quảng Bình là " Vô song phúc địa" như bức hoành biểu của vua Nguyễn Phúc Chu sau này ngự đề. Lấy Hoành Sơn và sông Linh Giang hiểm trở ở phía bắc và núi Hải Vân, Thạch Bi ở phía Nam làm đất dụng võ như lời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng căn dặn, các chúa Nguyễn sau này đã cố gắng giữ gìn vùng phên dậu này để tiếp tục dựng nghiệp và mở mang bờ cõi về phương nam.
 
II. CUỘC CHIẾN TRANH TRỊNH- NGUYỄN
 
1. Công cuộc phòng thủ trên đất Quảng Bình
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mất, các con cả thứ hai, ba, tư đều đã mất; con thứ 5 là Hứa đang làm con tin ở Bắc nên truyền ngôi cho con thứ 6 là Nguyễn Nguyên. Ông sinh năm Quý Hợi (1563), năm Ất Dậu (1585) Nguyễn Nguyên đã từng cầm quân đánh đuổi thuyền nước ngoài ở Cửa Việt. Năm Nhâm Dần (1602) ông được bổ làm quan Trấn thủ dinh Quảng Nam. Các quan tôn Nguyễn Nguyên thống lĩnh thuỷ, bộ chư dinh, kiêm Tổng nội ngoại Bình chương quân quốc trọng sự, Thái bảo Thuỵ quận công.
Nghe tin Đoan quận công Nguyễn Hoàng mất, vua Lê sai sứ đem vật lễ vào phúng viếng và phong sắc Đoan quận công là Cẩn Nghĩa công, đồng thời cho Nguyễn Nguyên trấn thủ hai xứ Thuận Quảng, gia hàm Thái Bảo, tước quận công, trấn thủ Thuận, Quảng.
Nối ngôi cha, Thuỵ quận công ra sức chăm lo việc phòng thủ, xây dựng mới và sử thành luỹ, đặt quan ải, vỗ về quân dân được trong ngoài mến phục nên gọi là chúa Phật, hoặc chúa Sãi (Sãi vương). Từ đấy Nguyễn Nguyên xưng họ mình là Nguyễn Phước.
 Ở phía Bắc, năm 1619, Trịnh Xuân con thứ của Bình An Vương, âm mưu giết cha để cướp ngôi, việc này có liên quan tới vua Lê Kính Tông. Tháng 5, Bình An vương sai con trưởng là Trịnh Tráng và Nội giám là Bùi Sĩ Lâm bắt vua phải thắt cổ chết, rồi lập con vua là Duy Kỳ lên ngôi, ấy là vua Thần Tông, đổi niên hiệu là Vĩnh Tộ.
Năm sau (1620), em Thuỵ quận công là Chưởng cơ Hiệp và Chưởng cơ Trạch (con thứ 7, 8 của Chúa Tiên) mưu giành quyền Sãi vương, gửi mật thư xin họ Trịnh phát binh, tự mình làm nội ứng. Chúa Trịnh sai đem 5.000 quân đến đóng ở Nhật Lệ. Nghe tin quân Trịnh vào, Thuỵ quân công cùng với các tướng bàn việc chống giữ. Chúa Sãi thân chinh đem quân đi đánh bắt được Hiệp và Trạch giam vào ngục. Tướng Nguyễn Khải của Trịnh đang đóng ở Nhật Lệ nghe tin vội rút quân về.  Việc họ Trịnh cho quân vào cửa biển Nhật Lệ làm cho Thuỵ quận công quyết định ly khai với triều đình, từ đó không cống nạp nữa.
Năm Giáp Tý (1624), Thanh Đô vương Trịnh Tráng sai Công bộ Thượng thư Nguyễn Duy Thì vào đòi thuế đất chúa Sãi lấy lý do mấy năm Thuận Quảng mất mùa, không nộp
Năm Đinh Mão(1627) vua Lê sai sứ bảo chúa Nguyễn cho con ra chầu và nạp cống phẩm. Thuỵ quận công khước từ, họ Trịnh phát binh, đưa vua Lê Thần Tông cùng đi, lại vào đóng quân ở cửa Nhật Lệ. Cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn bùng nổ, kéo dài gần nửa thế kỷ. Trong cuộc chiến đó, với chiêu bài phò Lê, mỗi dòng họ phong kiến Trịnh Nguyễn đều giành phần chính nghĩa về mình. Chúa Nguyễn cho rằng, họ Trịnh đã giết vua Anh Tông (1573) rồi vua Kính Tông (1619), ấy là tội đại nghịch; đã tước đoạt quyền bính của vua Lê, để vua làm bù nhìn, hư vị, sưu thuế nặng nề, khiến trăm họ lầm than, vậy mình phải có bổn phận diệt Trịnh phò vua Lê, giải thoát con dân cho trăm họ. Phần mình, chúa Trịnh cho rằng, họ Nguyễn đã phản bội vua Lê, được bổ làm trấn thủ, họ Nguyễn đã ly khai triều đình, không chịu cống thuế, lại còn xâm lược đất nhà vua, vậy nên mình phải có trách nhiệm nhân danh vua Lê mà đánh kẻ phản thần, thu lại giang sơn về một mối cho vua Lê. Thực chất đó là cuộc chiến tranh giành quyền lực, đất đai của hai dòng họ phong kiến Trịnh, Nguyễn.
Để tiến hành cuộc chiến tranh này cả hai bên đã huy động một lực lượng lớn quân đội, dân binh, voi ngựa, chiến thuyền tham chiến. Theo tài liệu của một số giáo sĩ phương Tây thời đó thì lực lượng quân Trịnh có tới  20 vạn người, 600 chiến thuyền (lớn hơn số tàu châu Âu thời đó), mỗi chiếc trang bị 3 khẩu pháo lớn, mỗi bên có 25 người chèo, và hàng chục lính chiến. Phía quân Nguyễn có khoảng 4 vạn lính chính quy, 200 chiến thuyền. Từ cuộc năm 1627 đến năm 1672 Trịnh Nguyễn đã tiến hành 7 cuộc chiến lớn nhỏ và tất cả cuộc chiến tranh ấy đều diễn ra trên đất châu Bố Chính và phủ Tân Bình. Vùng Quảng Bình ngày này trở thành chiến địa, nhân dân Quảng Bình phải chịu nhiều mất mát, đau thương. Trong quá trình chiến tranh, để phát triển lực lượng, xây dựng tiềm lực quốc phòng các chúa Nguyễn đã tiến hành các cuộc chiến tranh thu phục vùng đất phương Nam. Chính nhờ bảo vệ được vùng biên ải phía Bắc mà các chúa Nguyễn mới có điều kiện mở rộng lãnh thổ phía nam. Với ý nghĩa đó, vùng đất Quảng Bình đã có những đóng góp to lớn trong cuộc Nam tiến, mở cõi về phía Nam ở thế kỷ XVII .
Sau cuộc phát binh của chúa Trịnh vào Nhật Lệ năm Đinh Mão ( 1627) và đặc biệt sau việc trả lại sắc phong của vua Lê, chúa Sãi thấy rằng phải chuẩn bị cho cuộc chiến tranh với Đàng Ngoài. Vùng Nam Bố Chính và Quảng Bình được huy động tổng lực phục vụ chiến tranh, đặc biệt là trong việc xây dựng quân đội, xây dựng tuyến phòng thủ phía bắc.
* Sắp đặt hành chính. Khi mới vào Thuận Hoá, Nguyễn Hoàng đóng ở Ái Tử, chỗ đó mới gọi là dinh. Các cơ quan chính quyền trung ương của xứ Tuận Hoá đều ở đó. Sau khi được kiêm lãnh xứ Quảng Nam, Nguyễn Hoàng cho đặt dinh Quảng Nam. Danh từ " dinh" ở đây chỉ một đơn vị hành chính. Đến đời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đặt thêm nhiều dinh trong đó có dinh Quảng Bình (1629) và dinh Bố Chính (1630). Sau chúa Hi tông, theo kết quả của việc mở rộng lãnh thổ phía Nam và nhu cầu chiến tranh phía Bắc mà thành lập thêm các dinh khác. Đến đời chúa Thế Tông, toàn bộ lãnh thổ chúa Nguyễn có 12 dinh và 1 trấn. Do vị trí chiến lược của vùng đất biên ải phía bắc, riêng vùng đất Quảng Bình thời ấy có đến 3 dinh: dinh Bố Chính, tục gọi là dinh Ngói, ở làng Thổ Ngoã (Bố Trạch); dinh Quảng Bình tục gọi là dinh Trạm ở làng An Trạch, Lệ Thuỷ ( nay là xã Mỹ Thuỷ huyện Lệ Thuỷ); dinh Lưu Đồn, tục gọi là dinh Mười ở làng Võ Xá huyện Khương Lộc (nay là xã Võ Xá huyện Quảng Ninh)[8].
Dinh chia ra nhiều phủ, phủ gồm nhiều huyện, huyện gồm nhiều tổng, tổng gồm nhiều xã. Các nơi gần núi rừng, dọc sông, biển thì đặt làm " thuộc" và cho các phường, thôn ," nậu", " man"[9] lẻ tẻ phụ thuộc vào.
  Về chế độ quan lại: Thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng vẫn giữ các cơ quan hành chính do triều Lê đặt.  Chúa Sãi lên ngôi, liền bỏ các cơ quan ấy  mà đặt ba ty là ty Xá sai, ty Tướng thần lại và ty Lệnh sử để thay thế. Ở Chánh dinh có ty Xá sai coi việc văn án, giấy tờ có Đô tri và Ký lục đứng đầu; ty Tướng thần lại có Cai bộ đứng đầu coi việc thu tiền tô thuế xứ Thuận Hóa, phát lương tháng cho các dinh Lưu Đồn, Quảng Bình và Bố Chính; ty Lệnh sử có Nha úy đứng đầu coi việc tế tự, lễ tiết.
Bộ máy hành chính ở Quảng Bình thời đó phủ có tri phủ, huyện có tri huyện đứng đầu; coi việc từ tụng có Đề lại và Thông lại để sưu tra soát xét việc từ tụng; coi việc tế tự có Lễ sinh. Cấp xã có xã trưởng. Các quan chức và nhân viên coi việc thu thuế không thuộc quan địa phương mà thuộc quyền nội phủ.
  * Xây dựng quân đội Do yêu cầu của cuộc chiến tranh phải chống lại họ Trịnh ở phía Bắc nên các chúa Nguyễn rất coi trọng phát triển quân đội các dinh ở Quảng Bình. Quân đội của các chúa Nguyễn gồm có bộ binh, thủy binh, tượng, binh chia làm thuyền, đội, cơdinh. Thuyền là đơn vị thấp nhất. Chỉ huy đội có Cơ trưởng và Đội trưởng; chỉ huy cơ có Chưởng cơ và Cai cơ. Dinh là một đội quân gồm nhiều thuyền, đội, cơ do Chưởng dinh chỉ huy. Chưởng Dinh là cấp quân cao nhất trong quân đội thời bấy giờ.
  Lực lượng quân đội của các chúa Nguyễn ở Quảng Bình lúc bấy giờ gồm có:
  - Dinh Lưu Đồn ở Võ xá có binh Trung Tiệp 30 đội, thuyền cùng mã đội 40 người và cơ Tân Tượng 46 người, cộng tất cả có 1697 người; đội  Hữu Hùng có 5 thuyền, cộng 250 người; cơ Hữu Thắng 6 tuyền 297 người; cơ Tả Thắng 6 thuyền 282 người; cơ Tiền Thắng 6 thuyền 289 người; cơ Hậu Thắng 6 thuyền 291 người; cơ Tả Tiệp 6 thuyền 291 người; cơ Hữu Tiệp 6 thuyền 298 người; cơ Tiền Tiệp 10 thuyền 500 người; cơ Hậu Tiệp 6 thuyền 290 người.
  - Dinh Quảng Bình ở xã An Trạch có cơ Trung Bộ, 19 đội thuyền, mỗi đội 50 người cùng mã đội 40 người; cơ Trung Tượng có 81 người; cơ Trậm Tượng, quản mục có 16 người, hai đội Xa nhất và Xa nhị ... cộng 1.222 người; cơ Tả bộ có 5 thuyền 148 người; cơ Hữu Bộ có 5 thuyền 250 người; cơ Tả Kiên 5 thuyền 219 người; cơ Hữu Kiên 5 thuyền 248 người; đội Tả Bộ 4 thuyền 200 người; đội Hữu Bộ 2 thuyền; cơ Tả Tiệp 2 thuyền 99 người; cơ Kiên Nhị 4 thuyền 248 người.
  Thủy dinh Quảng Bình có cơ Tráng Nhị 5 thuyền 278 người; cơ Tả Nhị 2 thuyền 214 người; cơ Hữu Nhị 1 thuyền 57 người; đội Binh Thủy 1 thuyền 57 người.
  - Dinh Bố Chính có Trung cơ, 18 đội thuyền và quản mục, cắt cỏ voi gồm 939 người; đội Tả Thắng 3 thuyền 149 người; đội Hữu Thắng 3 thuyền 149 người; đội Hậu Thắng 3 thuyền 149 người; cơ Tả Tuần Hà 5 thuyền 147 người; đội Thủy Sai 3 thuyền 150 người.[10]
  Việc bố trí lực lượng lớn quân đội ở các dinh Quảng Bình chứng tỏ các chúa Nguyễn rất quan tâm việc phòng thủ vùng biên ải phía Bắc và diều đó đã giúp cho các chúa Nguyễn đánh bại các cuộc chiến tranh của Trịnh suốt 50 năm. Để xây dựng quân đội to lớn đó các chúa Nguyễn thực hiện chế độ quân dịch khá chặt chẻ. Theo quy định, dân ở xã mới về (nơi mới vào đất chúa Nguyễn), hoặc dân mới đến ở thì cho 3 năm yên ổn làm ăn, hết hạn mới lấy người ấy vào lính. Người dân nào 50 tuổi trở lên mà thấp bé, cô đơn thì miễn đi lính. Nhà nào có hai con trai thì chỉ lấy một người đi lính; cha mẹ già mà không có con gái chỉ có con trai thì miễn đi lính.
  Để nắm chắc lực lượng trai tráng bổ sung vào quân đội, các chúa Nguyễn thực hiện chế độ duyệt tuyển. Cứ 6 năm một lần có một đợt duyệt tuyển lớn gọi là Đại điển; 3 năm một lần duyệt tuyển nhỏ gọi là Tiểu điển. Đến năm duyệt tuyển thì tháng giêng sai các tổng, xã làm sổ hộ tịch, để riêng dân chánh hộ là dân chánh quán của xã, và dân khách hộ là dân ngụ cư, rồi chia làm các hạng:
  1/ Tráng là hạng mạnh khỏe để bổ sung quân đội.
  2/ Quân là hạng người được ở nhà làm ruộng, đến khi quân có thiếu thì theo thứ tự trong sổ mà lấy bổ sung.
  3/ Dân là những người từ 18 tuổi trở lên nhưng không được chọn làm binh lính.
  4/ Lão là người cao tuổi.
  5/ Tật là người tàn tật;
  6/ Cố là người làm thuê;
  7/ Cùng là người nghèo túng;
  8/ Đào là người bỏ trốn.
  Đến tháng 6 thì tổ chức duyệt tuyển. Ở các địa phương lập nên các tuyển trường có các quan văn, võ do trung ương phái đến phụ trách việc duyệt tuyển. Ở Quảng Bình có 3 trường duyệt tuyển: 1 cho huyện Khương Lộc (Quảng Ninh); 1 cho huyện Lệ Thủy; 1 cho châu Nam Bố Chính.
  Việc duyệt tuyển trước hết là nhằm nắm lực lượng trai tráng bổ sung cho quân đội và ngoài ra còn nhằm thực hiện chế độ tô thuế ở các địa phương. Khi đã vào quân đội, đơn vị (thuyền) nào có lính trốn thì bắt Tướng thần, Xã trưởng xã người lính trốn định người thay thế và chịu một khoản lệ phí gọi là tiền hành lý cho công việc sai người về  truy nã lính. Chế độ còn quy định các chỉ huy không được hà khắc với lính mới, ai sai thì phải phạt hoặc giáng cấp. Cấm các quan cơ, đội đem lính sửa chữa nhà riêng, vườn riêng, ai trái lịnh thì đình chỉ, không cấp lương bổng.
  Các chánh binh được cấp lương tháng, một số đơn vị không lãnh lương tháng thì được cấp tô ruộng ở xã nhà, hoặc xã khác, hoặc được cấp một số phu làm ngụ lộc. Quân lính mỗi khi thắng trận được thưởng tiền, bạc. Ở Nam triều, các chúa Nguyễn đều coi trọng việc luyện binh và giảng võ làm hun đúc tinh thần thượng võ và quyết tâm chiến đấu của quân đội.
* Xây dựng hệ thống chiến lũy (Hệ thống lũy Đào Duy Từ) 
 Cùng với việc xây dựng quân đội, chúa Nguyễn coi trọng việc xây dựng hệ thống phòng thủ. Người có công lớn trong việc giúp chúa Sãi xây dựng tuyến phòng thủ phải kể đến Đào Duy Từ., người được  quan Khán lí phủ Hoài Nhơn là Trần Đức Hoà tiến cử. Sau khi chúa Sãi đuổi được quân Trịnh ở cửa biển Nhật Lệ năm 1627, quan Khán lí phủ Hoài Nhơn là Trần Đức Hoà đến mừng, nhân đó đưa Chúa xem " Ngoạ Long cương vãn" và tiến cử Đào Duy Từ. Chúa Sãi bổ dụng Đào Duy Từ, trao chức Nha Uý nội tán, tước Lộc Khê hầu, trông coi việc quân cơ và Tham lí quốc chính. Chính Đào Duy Từ đã hiến kế và trực tiếp chỉ đạo xây dựng hệ thống phòng thủ thành luỹ trên đất Quảng Bình dọc sông Nhật Lệ sau này người ta gọi là Luỹ Đào Duy Từ hay còn gọi là Luỹ Thầy.
Đào Duy Từ sinh năm 1572 tại làng Hoa Trai, xã Vân Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tỉnh Gia, nay là làng Nỗ Giáp, xã Nguyên Bình, huyện Tỉnh Gia. Thân phụ ông là Đào Tá hán, vốn là một kép hát trong triều đình Lê anh Tông (1557-1573). Thân mẫu ông cũng là người giỏi nghề ca hát. Tương truyền Đào Duy Từ học giỏi “ Bẩm trí thông minh, sáng suốt thông hiểu sự tích cổ kim…những bậc trí giả giúp nước phò vua thì học giả trong thiên hạ không ai sánh kịp”[11].
 Tài học của Đào Duy Từ từ kinh sử đến cửu lưu, bách gia môn gì cũng giỏi nhưng khi đi thi Hương bị Hiến ty trục xuất với ly do là con nhà kép hát “xướng ca vô loài, bất dự khoa bảng”.
Đào Duy Từ vào nam, đến phủ Hoài Nhơn, đi ở chăn trâu cho một phú ông gần nhà Trần Đức Hòa. Ngày đi chăn trâu, đêm về đọc sách, nghiền ngẫm nhân tình thế thái rồi viết “Ngọa Long cương vãn” ví mình như Khổng Minh, bày tỏ ý chí muốn tìm minh chủ để cứu dân, giúp đời. Phú ông thấy Duy Từ là người học rộng, biết nhiều mới giới thiệu với quan Khán lý Trần Đức Hòa. Trần Đức Hòa đọc Ngọa Long cương vãn vui mừng mà nói rằn: “ Trời sinh minh chúa trị dân, tất có bậc hiền tài giúp rập. Duy Từ chính là Ngọa Long tiên sinh ngày nay”. Trần Đức Hòa mời Đào Duy Từ về làm thầy dạy học cho các con và gả con gái cho
Năm Đinh Mão (1627) nhân chúa Sãi đánh thắng quân Trịnh ở cửa biển Nhật Lệ, Trần Đức Hòa ra chúc mừng, đưa bài Ngọa Long cương vãn cho Chúa. Xem xong Nguyễn Phúc Nguyên nhờ Trần Đức Hòa mời Đào Duy Từ đến gặp. Hai bên cùng đàm đạo, biết Đào Duy Từ là người hiền tài, Chúa mời ở lại, tôn làm Quân sư. Chúa Sãi bổ dụng Đào Duy Từ, trao chức Nha Uý nội tán, tước Lộc Khê hầu, trông coi việc quân cơ và Tham lí quốc chính. Chính Đào Duy Từ đã hiến kế và trực tiếp chỉ đạo xây dựng hệ thống phòng thủ thành luỹ trên đất Quảng Bình dọc sông Nhật Lệ sau này người ta gọi là Luỹ Đào Duy Từ hay còn gọi là Luỹ Thầy.
Sách Thực lục tiền biên chép: “Duy Từ có tài lược văn võ, trù hoạch điều gì đem thi hành đều trúng, giúp việc nước chỉ tám năm mà công nghiệp chói lọi, đứng đầu công thàn khai quốc”[12]
Trong những ngày đầu đến phò chúa Sãi, biết quan hệ Trịnh- Nguyễn khó tránh khỏi chiến tranh, để bảo vệ vùng đất chúa Nguyễn, Đào Duy Từ hiến kế: “ Muốn mưu đồ sự nghiệp vương bá, cần phải có kế hoạch vạn toàn. Người xưa có nói, không một lần khó nhọc thì không được yên nghỉ lâu dài, không hao phí tạm thời không yên ổn mãi mãi. Tôi xin hiến một bản đồ, sai quân dân hai trấn theo đó đắp một cái lũy từ chân núi Trường Dục đến bãi Hạc Hãi ấy là nhân hình thế đất đai mà đặt phòng thủ giữ vững biên giới, thì quân địch có đến cũng không làm gì được”. Chúa Sãi nghe theo, sai quân dân đắp lũy Trường Dục hơn một tháng thì hoàn thành[13].
  Sau khi chúa Sãi trả lại sắc phong của vua Lê và sau đó không chịu cống phẩm, biết quân Trịnh sẽ tiến đánh, Đào Duy Từ cùng Nguyễn Hữu Dật ra Quảng Bình xem xét lại hình thế núi sông, tăng cường phòng thủ. Truyền thuyết kể lại rằng, lần đó ra Quảng Bình, Duy Từ cùng Hữu Dật lên núi Đầu Mâu đầu nguồn sông Nhật Lệ để xem bao quát hình thế núi sông, chọn nơi đắc địa đóng quân. Tương truyền, núi Đầu Mâu Quần Tiên thường tụ hội và Phật Bồ Tát hay hiện về núi Thần Đinh nên có câu “ Mâu Tiên, Đinh Phật”. Lần đó trên núi Đầu Mâu, Duy Từ gặp một dị nhân hẹn ngày đến núi Thần Đinh ban cho Thấn Thơ. Nhờ Thần Thơ ấy mà Duy Từ giúp được chúa Nguyễn thành công[14]
  Xem xét địa thế núi sông, thấy tuyến phòng thủ Trường Dục chưa thể ngăn chặn quân Trịnh đổ bộ vào cửa biển Nhật Lệ, Đào Duy Từ xin Chúa cho đắp một lũy từ cửa sông Nhật Lệ đến chân núi Đầu Mâu, phía ngoài lũy có nước và bùn lầy rất sâu có thể làm hào rãnh như thế “lũy hiểm hơn 10 lần lũy Trường Dục”. Chúa Sãi thấy khó còn e ngại. Đào Duy Từ cáo bệnh ở nhà và cố làm bài thơ ngâm vịnh:
                     “ Nhà là lá, cột là tre;
                       Ngày tháng an nhàn được chở che.
                       Màn vải thưa giăng ngăn muỗi bọ;
                       Giậu cây kín đáo giữ ong ve.
                       Cơm ba bữa chuộng rau cùng muối;
                        Thích bốn mùa ưa rượu với chè.
                        Muôn việc thỏa tình chăng ước muốn;
                        Ước tôi hay gián, Chúa hay nghe”
  Chúa Sãi nghe được, biết tấm lòng của Đào Duy Từ mới bằng lòng để ông đắp lũy. Đào Duy Từ cùng Nguyễn Hữu Dật ra Quảng Bình đôn đốc công việc đắp lũy đến tháng tám năm Tân Mùi (1631) thì lũy đắp xong. Các công trình phòng thủ đắp vững chãi rồi, cũng năm Tân mùi theo hiến kế của Đào Duy Từ, chúa Sãi cho đặt ty Nội pháo tượng và hai đội Tả Hữu pháo tượng lấy người ở làng Phan xá và Hoàng Giang huyện Khang Lộc (Quảng Ninh ngày nay) để đúc súng đại bác và súng tay trang bị cho các đội quân chúa Nguyễn.
  Sau khi đắp xong lũy Trường Dục và lũy Nhật Lệ (hay còn gọi là lũy Động Hải, Trường Lũy) là hai lũy chính, chúa Nguyễn còn cho đắp thêm một số lũy khác để bổ túc thêm việc phòng thủ như lũy Trường Sa (1633), Trấn Ninh, lũy An Náu (1661) do Nguyễn Hữu Dật chỉ huy. Tất cả hệ thống chiến lũy này đều được gọi chung  là hệ thống lũy Đào Duy Từ (còn gọi là Lũy Thầy).
            Hữu trí dũng hề, khả quá Thanh Hà
            Túng hữu dũng hề, trường lũy bất khả quá
( Có tài vượt nổi Thanh Hà (sông Gianh)/ Dẫu thêm hai cánh trường thành khó qua)
Chính
Hệ thống luỹ Đào Duy Từ gồm có các luỹ chính sau:
Luỹ Trường Dục: được xây dựng năm 1630, là một trường thành bằng đất, bắt đầu từ làng Trường Dục, dưới chân núi Thần Đinh (núi Chùa Non), chạy tới phá Hạc Hải. Luỹ chạy dọc theo bờ sông Rào Đá, đến chỗ giáp sông Nhật Lệ lại ngược lên tả ngạn đến làng Quảng Xá, đi qua địa phận các làng Trường Dục, Xuân Dục, Cổ Hiền, tới Đình Thôn. Luỹ dài 2.500 trượng (10-12 km), có nơi cao 3 mét, chân rộng từ 6 đến 8 mét. Luỹ Trường Dục ngăn quân địch ở phía tây. Khi quân Trịnh nếu vượt qua sông Nhật Lệ thì gặp núi non hiểm trở, không qua được, phía đông là đầm lầy Võ Xá, rồi đến một bãi cát rộng có nhiều công sự phòng thủ. Trong luỹ có các trại lính, kho lương ( Xán kho) bố trí theo hình chữ hồi, nên luỹ này còn gọi là Hồi Văn luỹ.
Luỹ Động Hải (còn gọi là luỹ Đầu Mâu, luỹ Nhật Lệ...). Luỹ Trường Dục là để giữ con đường núi và chặn đường tiến quân của địch đã đổ bộ được qua sông Nhật Lệ. Đào Duy Từ cho rắng phải chặn quân địch khi mới đổ bộ lên sông Nhật Lê. Vì vậy, năm sau ( 1931) Đào Duy Từ lại cho đắp luỹ Động Hải cách luỹ Trường Dục hơn 10 km về phía bắc. Sử triều Nguyễn chép: " Khi đắp luỹ Nhật Lệ, Đào Duy Từ đã tâu với chúa Nguyễn như sau: Thần xem từ cửa Nhật Lệ đến Đầu Mâu, phía ngoài có khe nước, đầm lầy ứ đọng, nhân đó làm hào, ránh, trong đắp luỹ mới hình thế hiểm yếu gấp mười lần luỹ Trường Dục. Chúa bèn cho làm ngay". Luỹ Động Hải bắt đầu từ chân núi Đầu Mâu là một rặng núi lớn, từ Trường Sơn chạy ngang ra. Ở chỗ đắp luỹ, rặng núi Trường Sơn chia làm hai dãy đồi. Dãy thứ nhất chạy đến sông Nhật Lệ, ở địa phận làng Văn La (sử cũ gọi là làng Cẩm La, thường gọi là Cồn Hàu). Dãy thứ hai chạy đến bờ biển, khoảng 15 cây số về phía bắc, ở địa phận làng Phú Hội, ngày nay gọi là Quang Phú xưa gọi là Kẻ Địa. Hai dãy đồi ấy như hai cái càng cua ôm lấy đồng bằng rộng lớn, bùn lầy,hình bán nguyệt, mùa mưa nước lớn không qua được. Luỹ Động Hải được xây dựng trên đường từ cửa Nhật Lệ (nơi có làng Động Hải) chạy về phía nam, rồi rẻ sang phía tây cho đến núi Đầu Mâu, cắt ngang giữa cánh đồng nói trên.  Phía bắc có sông Lệ Kỳ khá rộng và hai bờ đầy bùn lầy.
Luỹ Động Hải dài 3.000 trượng (12km), cứ cách một trượng đặt một súng bắn đá (khóa sơn), 3 hay 5 trượng lại xây một pháo đài, đặt súng nòng lớn. Luỹ cao 5 xích (6 mét), mặt ngoài đóng gỗ lim, trong đắp đất, làm 5 bậc, voi ngựa có thể đi lại được.
Sau khi Đào Duy Từ mất, Nguyễn Hữu Dật cho xây dựng một số lũy khác để hoàn thiện phòng tuyến Lũy Thầy cả phía bắc và nam sông Nhật Lệ Ngoài luỹ Trường Dục và luỹ Động Hải là hai luỹ lớn còn nhiều công trình phòng thủ khác tuỳ theo tình hình chiến sự của từng thời kỳ mà quân Nguyễn bố trí, xây dựng thêm.
Luỹ Trường Sa đắp thêm năm Quý Dậu ( 1633), trên bãi cát giữa cửa biển Nhật Lệ và Cửa Tùng để phòng đối phó với quân Trịnh không đổ bộ vào cửa Nhật Lệ theo đường thuỷ về phía nam, đổ bộ lên phía bắc cửa Tùng.
 Lũy An Náu (1661) ở châu Bố Chính, là lũy tiền tiêu bảo vệ đồn và lũy Động Hải.
Luỹ Trấn Ninh được xây dựng năm Nhâm Dần (1662) để bảo vệ phía đông luỹ Động Hải, giữ đường biển. Chính luỹ Trấn Ninh này, trong cuộc chiến tranh năm Nhâm Tý (1672), quân Trịnh đã cố gắng đánh trong mấy tháng không chiếm được đành phải nghỉ binh, mặc nhiên chấp nhận sông Gianh làm giới tuyến hai vùng Trịnh và Nguyễn. Với hệ thống chiến lũy dày đặc, có quy mô lớn, có lúc phải gấp rút hoàn thành, chúa Nguyễn đã huy động một lực lượng lớn quân đội, dân binh và nhân dân mà chủ yếu là dân ở phủ Quảng Bình, châu Nam Bố Chính để xây dựng cho các công trình này.
Xây dựng hệ thống luỹ Thầy các chúa Nguyễn đã tạo nên một phòng tuyến kiên cố mà suốt 50 năm trong cuộc chiến tranh quân Trịnh không bao giờ vượt qua được.
Khi phân tích vị trí chiến lược của vùng này, người ta cho rằng Quảng Bình là một vùng tử địa trong cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn. Quân Trịnh không thể đổ bộ một nơi nào khác để tiến hành chiến tranh. Nếu đổ bộ vào một hải cảng phía nam Thuận Hoá như Lê Thánh Tông đã từng làm thì bấy giờ Chiêm Thành còn có lực lương, có thể bị kẹp vào giữa hai lực lượng Chiêm Thành và quân Nguyễn, thì quân Trịnh không thể có đường thoát. Cũng không thể đổ bộ ở một hải cảng gần hơn như cửa Việt, cửa Eo (hoặc cửa Noãn, tức Thuận An ngày nay) để theo sông Quảng Trị hay sông Thuận An tiến đánh vì các sông này chật hẹp, chiến thuyền lớn vào không tiện. Vả lại không ai đem quân lính xông thẳng vào kinh đô của đối phương, nơi có sự phòng thủ chắc chắn. Vậy muốn đánh Thuận Hoá, phải đánh vào sông Nhật Lệ, đổ bộ lên phủ Quảng Bình, rồi từ đó quân bộ, quân thuỷ tiến vào Thuận Hoá.
R.P Cadiere, một người có nhiều công trình nghiên cứu địa lý, lịch sử vùng đất Quẩng Bình đầu thế kỷ XX trong sách " Di tích lịch sử Quảng Bình" đã nhận xét: " Con sông Nhật Lệ ở cánh đồng, hình thành dây cung của vòng cung lớn này. Tất cả vùng đất do con mắt nhìn bao quát này trong hơn nửa thế kỷ đã đẩm máu dân tộc An Nam. Theo biên niên sử, những đạo quân không kém hai mươi vạn người, giáp chiến nhau trong thời gian rất gần nhau. Hai bên bờ sông Nhật Lệ là con đường dẫn đến nền độc lập của người dân Nam kỳ ".[15]
Để xây dựng hệ thống Lũy Thầy, nhân dân Quảng Bình đã bỏ hàng triệu ngày công để xây dựng nên hệ thống chiến lũy có quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử. Ngoài các chiến lũy, các chúa Nguyễn còn huy động dân vùng này xây dựng các công trình khác phục vụ cho việc quân như hệ thống các kho quân lương, súng đạn, các dinh, trạm quân.
 
2- Các cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn
* Cuộc chiến tranh năm Đinh Mão (1627)
Sau khi vua Lê sai Nguyễn Hửu Bổn đem sắc vào đòi thu tô thuế, chúa Sãi không chịu nộp, lại sai Lê Đại Nhậm đem sắc vào dỗ, dọa vẫn không được, tháng 3 năm Đinh Mão ( 1627) Trịnh Tráng ra lệnh tiến quân, đem vua Thần tông cùng đi. Lực lượng quân thủy, quân bộ của chúa Trịnh tiến vào bắc sông Nhật Lệ. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Phước Vệ làm Tiết chế, Nguyễn Hữu Dật làm Giám chiến đem quân ra chống cự và sai công tử thứ tư là Trung chỉ huy thủy quân tiếp ứng. Cuộc chiến diễn ra ác liệt trên hai bờ sông Nhật Lệ. Quân Trịnh dùng pháo lớn bắn vào đội hình quân Nguyễn, tướng tiên phong của Trịnh là Lê Khuê dùng kỵ binh tiến vào trận địa của quân Nguyễn. Quân Nguyễn phải rút lui. Đêm ấy, lợi dụng nước triều lên, thủy quân Nguyễn đánh vào dinh của Nguyễn Khải là tướng của Trịnh đóng bên bờ bắc làm cho quân Trịnh rối loạn. Trịnh Tráng phải đưa quân tiếp cứu, thế Trịnh mạnh, quân Nguyễn phải rút lui. Quân Trịnh thừa thắng tiến vào đất Nguyễn tranh cướp của cải. Quân Nguyễn đem thủy binh đánh chặn, quân Trịnh bị tổn thất nặng. Trước tình hình cuộc chiến có thể kéo dài, quân Trịnh tuy tổn thất nặng nề nhưng lực lượng còn mạnh, Nguyễn Hữu Dật bàn mưu với Lượng quốc công Trương Phước Gia cho người nội gián trong hàng ngũ quân Trịnh, phao đồn rằng ở Đông Đô anh em Trịnh Gia, Trịnh Nhạc mưu nổi loạn, cướp ngôi. Trịnh Tráng nghe tin, nghi ngờ cho rút quân về Bắc. Cuộc chiến tranh năm Đinh Mão mở đầu cho một cuộc chiến giữa hai tập đoàn Trịnh- Nguyễn. Sau cuộc chiến tranh này, theo hiến kế của Đào Duy Từ chúa, Sãi đã cho đắp lũy Trường Dục và lũy Động Hải chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài. Vùng đất hai bên bờ sông Nhật Lệ đã trở thành chiến trường ác liệt kéo dài suốt hơn nửa thế kỷ.
*  Cuộc chiến năm Quý Dậu (1633)
Năm Quý Dậu (1633), em thứ 3 của chúa Sãi là Nguyễn Phước Anh phản bội gửi mật thư cho chúa Trịnh xin quy thuận và sẽ làm nội ứng khi quân Trịnh đánh vào. Trước đó chúa Trịnh đã sai Trấn thủ Nghệ An là Trịnh Tạc đem quân thủy vào đóng đồn ở cửa biển Kỳ La [16] và sai Trịnh Đệ đem bộ bịnh đóng đồn ở Bắc Bố Chính để chuẩn bị cho cuộc tiến quân xâm lược vào đất Nguyễn. Sau khi nhận được mật thư của Nguyễn Phước Anh, tháng 12, Trịnh Tráng phát binh đưa vua Thần Tông cùng đi. Đại quân thủy, bộ do Trịnh Tráng thống lĩnh tiến thẳng tới cửa biển Nhật Lệ.
Về phía quân Nguyễn, chúa Sãi sai tướng Nguyễn Mỹ Thắng và Đốc chiến Nguyễn Hữu Dật đem quân chống cự. Trấn thủ Quảng Bình là Nguyễn Phước Kiều huy động quân dân trong vùng đóng cọc gỗ chặn cửa biển Nhật Lệ. Đồng thời Nguyễn Hữu Dật còn cho đắp ngay một lũy dài trên bãi cát phía nam sông Nhật Lệ (gọi là lũy Trường Sa) phòng khi quân Trịnh không đổ bộ vào sông Nhật Lệ mà đổ bộ vào bãi cát  này rồi đánh tập hậu vào quân Nguyễn ở lũy Động Hải. Đến Nhật Lệ, Trịnh Tráng cho bắn súng làm hiệu, không thấy quân Nguyễn Phước Anh tiếp ứng. Hơn một tuần, quân Trịnh mệt mỏi, chán nản, quân Nguyễn phản công mạnh, quân Trịnh bị tiêu diệt quá nửa, Trịnh Tráng giao cho Nguyễn Khắc Loát ở lại giữ châu Bắc Bố Chính rồi rút quân về bắc.
* Cuộc chiến tranh năm Quý Mùi (1643)
Tháng 10 năm Ất Hợi (1635) chúa Hi Tông Nguyễn Phúc Nguyên mất, Nguyễn Phúc Lan con thứ hai Nguyễn Phúc Nguyên nối ngôi. Chúa Thần Tông Nguyễn Phúc Lan còn gọi là Chúa Thượng ( Thượng vương).
Tháng 2 năm Quý Mùi ( 1643), Trịnh Tráng lại sai hai con thứ là Trịnh Tác và Trịnh Đệ thống lĩnh đại quân tiến đánh Nam Bố Chính. Quân Trịnh tiến đến cửa sông Gianh, tướng của quân Nguyễn là Bùi Công Thắng ra sức cố giữ phía tả ngạn nhưng thế quân Trịnh mạnh nên không chống đở được. Thừa thắng quân Trịnh vào cửa sông Nhật Lệ. Tháng 3, Trịnh Tráng đem vua Lê vào đóng ở An Bài (thuộc Bắc Bố Chính) gần cửa sông Gianh. Quân Trịnh nhiều lần đánh vào lũy Trung Hòa (nay là Mỹ Hòa) ở cửa sông Gianh, quân Nguyễn phòng thủ rất kiên cường không chiếm được, trời nắng nóng quân lính mệt mỏi bị bệnh, chết nhiều buộc phải rút quân về.
* Cuộc chiến tranh năm Mậu Tý (1648)
Tháng giêng năm Mậu Tý (1648) Trịnh Tráng lại sai Đô đốc Trịnh Đào thống lĩnh các đạo quân thủy bộ vào đánh quân Nguyễn. Tháng 2, thủy quân của Trịnh tiến vào cửa sông Nhật Lệ. Tướng Hoằng Lễ của quân Nguyễn thua chạy, cầu viện Trấn thủ Nguyễn Phước Kiều, Kiều sai Tham tướng Nguyễn Triều Văn đem chiến thuyền đến ứng cứu, nhưng lại dừng quân ở phá Hạc Hải. Quân Trịnh thừa thắng đánh chiếm dinh Quảng Bình. Quân Trịnh tiến đóng đồn ở làng Võ Xá. Trấn thủ Bố Chính là Trương Phước Phấn cùng con là Hùng đã cùng quân sĩ chiến đấu ngoan cường cố giữ lũy Trường Dục cầm chân quân Trịnh.
Chúa Thượng nghe tin báo bèn sai Thế tử Dũng Lễ hầu làm tiết chế các dinh quân của Chưởng dinh Nguyễn Phước Lộc, Cựu dinh Tống Hữu Đại và Giám chiến Nguyễn Hữu Dật đưa bộ binh cùng tham tướng Nguyễn Triều Văn đưa thủy binh tiến ra đánh Trịnh. Chúa Nguyễn Thần Tông đưa đại binh ra đóng ở xã Trung Chỉ (bắc Quảng Trị ngày nay). Chúa không được khỏe giao cho Thế tử Dũng thay mình làm tướng chỉ huy đại quân tiến ra Quảng Bình. Đạo quân tiên phong của chúa Nguyễn do Nguyễn Phước Lộc và Nguyễn Hữu Dật chỉ huy lợi dụng địa hình chặn đánh bộ binh quân Trịnh ở những nơi hiểm yếu, mở đường cho đại quân tiến tới. Đại quân của Thế tử Dũng đến dinh Quảng Bình. Trấn thủ Nguyễn Phước Kiều vẫn cố thủ được ở lũy Trường Dục. Quân Nguyễn củng cố lực lượng, sai tướng Triều Phương đem thủy quân phục ở bên tả ngạn sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến đem hơn 100 thớt voi nửa đêm đánh úp vào doanh trại quân giặc. Quân Trịnh bị bất ngờ bị đánh tan tác. Một số nhảy xuống thuyền gặp quân thủy quân cỉa quân Nguyễn chặn đánh, bị tiêu diệt phần lớn. Quân Nguyễn bắt sống nhiều tỳ tướng và 3 vạn quân Trịnh. Tướng Trịnh Đào đang đóng đồn ở Nam Bố Chính nghe tin, bỏ quân chạy. Thế tử Dũng Lễ hầu (Nguyễn Phúc Tần) đem đại binh đuổi đến sông Gianh rồi trở về. Sau đại thắng, chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Tiến lãnh 3000 quân đóng ở Võ Xá gọi là đạo quân Lưu Đồn, củng cố tuyến phòng thủ
 
* Cuộc chiến năm Ất Mùi (1655) và Canh Tý (1660)
Quân Nguyễn rút về Thuận Hóa, đến phá Tam Giang chúa Thượng Thần Tông mất, thọ 48 tuổi ở ngôi 12 năm. Chúa Thượng mất, Nguyễn Phúc Tần là công tử thứ hai của Thần Tông đã được phong làm Thái phó Dũng Lễ hầu lên ngôi năm ông 29 tuổi. Thái bảo Dũng quận công còn được gọi là chúa Hiền (Hiền Vương). Sau khi thắng trận Mậu Tý (1648) Hiền Vương tha cho hơn 60 tỳ tướng cho về bắc, còn 3 vạn quân Trịnh bị bắt chia ra các nơi từ Quảng Nam đến Phú Yên giúp cho phương tiện để khai khẩn ruộng đất làm ăn.
 Sau thất bại năm Mậu Tý (1648), Trịnh Tráng củng cố vùng Bắc Bố Chính chuẩn bị bàn đạp cho cuộc xâm lược mới. Tướng Trịnh Đào cùng Trần Ngọc Hậu mở dinh Tả trấn quân với hơn 1 vạn quân đóng ở Hà Trung ( Dinh Cầu). Lê Hữu Đức và Võ Lương mở dinh Hữu trấn quân với 5 nghìn quân đóng ở Hoành Sơn. Phạm Tất Toàn làm chủ tướng giữ châu Bắc Bố Chính.
Về phía quân Nguyễn, Nguyễn Phúc Tần vừa mới lên ngôi đã tính đến những mưu kế lớn. Việc đầu tiên là Chúa cho củng cố phòng tuyến phía bắc vùng Bố Chính làm phên dậu vững chắc để tiếp tục công cuộc xây dựng lãnh địa và mở rộng bờ cõi về phía nam. Hiền vương cho Vân Long hầu Nguyễn Phước Tráng làm Tham tướng thủy dinh Quảng Bình. Tháng 3 năm Quý Tỵ ( 1653) cho duyệt binh lớn ở An Cựu. Tháng 6 cho lập đồn Sa Chùy ở hữu ngạn sông Nhật Lệ. Năm Giáp Ngọ sai Phù Dương thay Xuân Sơn làm trấn thủ dinh Bố Chính. Phú Dương cho sửa sang thành trì, vỗ về quân sĩ sẵn sàng chuẩn bị cho cuộc chiến mới
Tháng 2 năm ất Mùi ( 1655), Trịnh Đào sai Phạm Tất Đồng vượt sông Gianh sang đánh cướp. Trước khi xuất binh đánh Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Tần sai Nguyễn Hữu Dật đến dinh Bố Chính xem xét tình hình. Nhận thấy, mấy năm gần đây, năm nào quân Trịnh cũng dùng binh đánh sang đất Nguyễn mà quân Nguyễn chưa một lầ nào đánh sang đất Bắc, Nguyễn Hữu Dật hiến kế lần này quân Nguyễn cần chủ động đánh sang quân Trịnh trước, tạo yếu tố bất ngờ, vây hảm, tiêu diệt quân Trịnh. Theo Nguyễn Hữu Dật, quân Trịnh cần chia làm ba đạo: thượng đạo tiến trước đánh Phạm Tất Đồng đang giữ châu Bắc Bố Chính; trung đạo theo sau tiếp ứng. Trịnh Đào ở Hà Trung nghe tin chắc sẽ bỏ đồn đi cứu viện; hạ đạo tiến đánh Lê Hữu Đức ở Hoành Sơn rồi thừa thế ra cướp dinh Hà Trung. Đó là kế " điệu hổ li sơn, dẫn xà nhập huyệt" đánh một trận có thể thu toàn thắng.
Chúa Nguyễn Phước Tần nghe theo kế ấy. Nguyễn Hữu Dật cho đặt các đài hiệu ở các cửa biển Quảng Bình để báo tin, xây dựng kho thóc ở Trường Dục chuẩn bị quân lương. Chúa phong Nguyễn Hữu Tiến làm Tiết chế, Nguyễn Hữu Dật làm Đốc chiến.
Tháng 3 năm 1655, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đưa quân của các dinh thủy, bộ ở Quảng Bình vượt sông Gianh. Theo kế hoạch, quân của Trấn thủ Cựu dinh là Tống Hữu Đạt đánh Tham đốc của Trịnh là Đặng Minh Tắc ở Lũ Đăng (Lũ Phong ngày nay) và cướp lấy dinh. Quân của Phù Dương ra Phù Lưu (Quảng Lưu ngày nay) đánh chiếm dinh Tam Hiệu (Ba Đồn ngày nay). Quân Phạm Tất Đồng chạy vào Lũng Bông (miền thượng lưu sông Gianh), quân Nguyễn chiếm được dinh Bắc Bố Chính.
Đúng như dự kiến của Nguyễn Hữu Dật, Trịnh Đào ở Hà Trung nghe tin Tam Hiệu thất thủ vội huy động hết quân lính đưa vào cứu viện. Lập tức Nguyễn Hữu Tiến tổ chức các đội quân của Nguyễn Phước Kiều, Cao Bá Phước, Tống Uy và Nguyễn Nghĩa tiến binh. Nguyễn Hữu Tiến chỉ huy đội quân Tráng Tiệp ( đơn vị đóng giữ Lưu Đồn- Dinh Mười) làm trung đạo. Nguỹen Hữu Dật chỉ huy đội quân Tiền súng gồm 6 thuyền, 270 người tiến ra Hà Trung.
Trong lúc đó, Phù Dương cầm quân thượng đạo đem quân đuổi đánh Phạm Tất Đồng; tướng cầm quân hạ đạo là Xuân Sơn tiến đánh Hoành Sơn thu được voi ngựa và nhiều khí giới rồi thừa thắng kéo đến phối hợp với đạo quân của Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đánh chiếm dinh Hà Trung. Quân Nguyễn đại thắng, Tất Đồng đầu hàng nộp châu Bắc Bố Chính, Trịnh Đào bỏ Hà Trung rút về An Trường ( Vinh, Nghệ An ngày nay).
Sau khi chiếm Hà Trung, quân Nguyễn tiến ra bắc đánh hạ nhiều đồn của quân Trịnh. Bảy huyện Nghệ An ở phía nam Sông Lam là Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, Thanh Chương đều về đất Nguyễn, cả Bắc Hà rung động. Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã được đẩy ra hai bên bờ Sông Lam trong suốt 5 năm. Cuối năm 1660 quân Trịnh đánh chiếm được các đồn dinh cũ, đẩy quân Nguyễn về lại Nam Bố Chính như trước.
* Cuộc chiến năm Tân Sửu (1661) và Nhâm Dần (1662)
Tháng chạp năm Tân Sửu (1661) chúa Trịnh Tạc sai con là Trịnh Căn thống lĩnh quân lính đánh miền Nam. Trịnh Tạc đem vua Thần Tông cùng đi, đến đóng ở Phù Lộ (nay là Phù Ninh, Quảng Trạch) trên tả ngạn sông Gianh. Việc Trịnh Tạc đưa vua nhà Lê đến đây là nhằm gây ảnh hưởng trong binh lính, sĩ phu và dân chúng thể hiện quyết tâm lấy lại đất chúa Nguyễn. Quân của Trịnh Căn chia làm ba đạo dưới sự chỉ huy của các tướng Đào Quang Nhiêu làm Thống suất; Lê Thời Hiến, Hoàng Nghĩa Giao làm Đốc suất, Lê Sĩ Triệt, Trịnh Thời Tế làm Đốc thị tiến vào.
Về phía quân Nguyễn, Nguyễn Hữu Dật làm Trấn thủ Nam Bố Chính đã dời đồn sang Phước Lộc cách dinh cũ mấy cây số và cho đắp một lũy đất từ làng An Náu trên bờ biển đến núi Châu Thị để bảo vệ quân đội và che chở cho lũy Động Hải ở đầu phía tây, trên lũy có dựng pháo đài
Bộ binh của quân Trịnh vượt sông Gianh, đóng ở thôn Phước Tự đối diện lũy An Náu. Thủy binh của Trịnh tiến vào cửa biển Nhật Lệ. Quân Trịnh bắt đầu đánh chiếm lũy An Náu, mấy ngày vẫn không được. Trước thế giặc mạnh, Nguyễn Hữu Dật liền thi hành kế "thanh dã" cho hộ vệ dân chúng vào trong lũy Động Hải, bỏ Nam Bố Chính vườn không nhà trống. Quân Trịnh chiếm được dinh Bố Chính.
Tháng giêng năm Nhâm Dần (1662) Nguyễn Hữu Dật dời quân vào đóng ở đồn Võ Xá (lỵ sở của dinh Quảng Bình) củng cố lực lượng chờ thời cơ phản công. Tháng 2, quân Trịnh đến dựng trại ở xã Trấn Ninh (nay thuộc phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới), ở đầu phía đông lũy Động Hải, và xã Chánh Thủy (nay là thôn Trung Nghĩa xã Nghĩa Ninh, thành phố Đồng Hới), tức là ở đầu phía tây của lũy này. Chủ trương của quân Nguyễn là cố thủ, đợi khi chúng mệt mỏi thì sẽ phản công. Mấy lần quân Trịnh khiêu khích nhưng quân Nguyễn vẫn án binh bất động.
Sau hơn một tháng quân Trịnh thiếu lương thực nôn nóng đưa thư khiêu khích quân Nguyễn. Nguyễn Hữu Dật lập kế cho quân Nguyễn cải dạng làm quân Trịnh ban đêm lẻn ra đánh phá vào dinh trại quân Trịnh và quân Nguyễn ở trong thành hò reo hưởng ứng. Quân Trịnh tưởng đại binh Nguyễn tiến đánh vội bỏ dinh trại chạy về phía bắc. Sáng ra, Nguyễn Hữu Dật mới đưa quân thủy, bộ binh truy kích quân Trịnh đến tận sông Gianh. Tướng Trịnh Căn bỏ dinh Bắc Bố Chính, chúa Trịnh Tạc vội vàng rước vua Thần Tông tháo chạy ra bắc. Sau chiến thắng năm Nhâm Dần, Nguyễn Hữu Dật chủ trương củng cố hệ thống phòng thủ ở vùng này. Ông cho đắp thêm một lũy ở làng Trấn Ninh gọi là lũy Trấn Ninh, hổ trợ cho lũy chính là lũy Động Hải ở mặt phía đông, để ngăn quân Trịnh tiến vào theo đường bờ biển. Phía bên hữu ngạn cho đắp thêm lũy Sa Phụ ở nơi gọi là Động Cát đối diện với lũy Trấn Ninh tạo thành một gọng kìm phòng thủ vững chãi hai bên bờ sông Nhật Lệ.
* Cuộc chiến tranh Nhâm Tý (1672)
Năm Canh Tuất (1670) chúa Trịnh Tạc sai Lê Đắc Đồng, Trần Xuân Bảng phụng mệnh vua Lê vào đòi chúa Nguyễn nạp thuế. Chúa Hiền  Nguyễn Phúc Tần không chịu cống nạp, chúa Trịnh đã muốn phát binh vào đánh nhưng nhiều cận thần can mới thôi.
Đến tháng 6 năm Nhâm Tý (1672), chúa Trịnh lại cử đại binh vào Nam quyết đánh bại chúa Nguyễn lần cuối. Chúa Trịnh Tạc cử Nghi quốc công Trịnh Căn làm nguyên súy thủy quân, Lê Thời Hiến làm Thống suất bộ binh cùng 10 vạn quân nam tiến. Chúa Trịnh Tạc cùng vua Lê Gia Tông theo sau tiếp ứng.
Phía quân Nguyễn, chúa Nguyễn Phước Tần cử công tử thứ tư là Chưởng cơ Hiệp Đức hầu Nguyễn Hiệp ( còn gọi là Thuần), một người dũng cảm, mưu lược làm Nguyên súy, và các tướng tài là Trương Phước Cương và Nguyễn Đức Bửu làm Tả, Hữu Tiên phong.
Công việc chuẩn bị hậu cần quân lương được tích cực chuẩn bị cho trận đánh lớn. Việc vận chuyển quân lương đến các kho  ở Quảng Ninh, An Trạch, Trường Dục trên đất Quảng Bình được tổ chức đi bằng đường thủy và đường bộ. Lực lượng vận chuyển đường bộ gồm hai đội Xa nhất và Xa nhì, mỗi đội 50 người, có 4 đội trưởng với 37 cỗ xe, 74 con trâu. Mỗi người coi 7 xe, mỗi xe chở 1200 bát gạo. Ngoài các đội xe trâu còn có thêm 5 cơ voi, gồm 150 con phục vụ cho việc chuyên chở.
Tháng 7 quân Nguyễn triển khai lực lượng trên các tuyến phòng thủ. Tướng Nguyễn Hữu Dật giữ lũy Sa Phụ. Trấn thủ Quảng Bình là Nguyễn Mỹ Đức giữ Chánh lũy (tức phần giữa của lũy Động Hải). Chưởng cơ Trương Phước Cương giữ lũy Trấn Ninh, Trấn thủ Bố Chính là Trần Tín giữ lũy Động Hồi (phần phía tây của lũy Động Hải), Trấn thủ Cựu dinh là Thuận Đức giữ lũy Đầu Mâu (cũng phía tây lũy Động Hải), Cai cơ Thuận Trung giữ cầu Mũi Nại  chỗ hợp lưu sông Nhật Lệ và sông Lệ Kỳ ( Cầu Dài bây giờ), Tham tướng Tài Lễ chỉ huy đóng cọc gỗ ở cửa biển Nhật Lệ. Để bảo đảm cho công việc thông tin, liên lạc thông suốt, quân Nguyễn tổ chức các trạm liên lạc đường thủy và đường bộ từ Bao Vinh (Huế) ra Quảng Bình. Trạm đường thủy chia làm 16 đoạn có 17 trạm; trạm đường bộ chia làm 17 đoạn có 18 trạm .
Tháng 8, quân Trịnh đến châu Bắc Bố Chính, Trịnh Căn đem quân vượt sông Gianh, đóng ở xã Động Cao, trên sông Lý Hòa và Thanh Hà (tức Thanh Khê ngày nay), cho tướng đi mộ hương binh tăng thêm lực lượng. Tháng 9, Trần Tín ở lũy Động Hải bắt đầu chia binh tiến đánh quân Trịnh nhưng lực lượng Trịnh quá mạnh phải rút vào trong lũy cố thủ. Quân Trịnh rải quân ra đóng ở vùng phía tây từ làng Chánh Thủy (tức làng Trung Nghĩa xã Nghĩa Ninh ngày nay) đến chân núi, ở phía đông từ làng Phú Xá đến Trấn Ninh, sát trước cử lũy Động Hải. Quân Trịnh còn cho đắp một lũy từ chân núi đến bờ biển để nối liền hai đạo quân của mình.
Trước thế giặc mạnh, quân Nguyễn đã cố gắng tăng thêm lực lượng, đắp thêm pháo đài, đặt thêm súng trên các lũy Trấn Ninh, Động Hải; cho mộ thêm lính để bảo vệ các đường xung yếu ven núi và tăng cường lực lượng tiếp ứng. Quân Nguyễn bố trí lực lượng giữ cửa Tư Dung (Tư Hiền), cửa Eo (Cửa Thuận), huy động hương binh 5 huyện của Thuận Hóa đóng giữ bờ biển Trường Sa dọc từ Động Hải vào cửa Tư Hiền. Chúa Nguyễn Phước Tần ra Cựu Dinh (Quảng Trị ) để trực tiếp chỉ huy cuộc chiến.
Sau một thời gian thăn dò, chuẩn bị lực lượng, tháng 11, đại quân Trịnh bắt đầu tấn công các phòng tuyến của quân Nguyễn. Mở đầu Thống suất Lê Thời Hiến đem 3000 quân tiến đánh lũy Trấn Ninh. Hiến đốc quân đến chân lũy, san bằng và lấp hết hào rãnh, ra sức công phá. Quân Nguyễn ở trên lũy bắn xuống, nhiều lần quân Trịnh lên được mặt lũy đều bị đánh bật xuống. Quân Trịnh cho đào dất, khoét rỗng chân lũy, bắn đạn lửa, thả diều giấy đang cháy để đốt dinh trại Nguyễn. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt trong suốt cả ngày, lũy Trấn Ninh bị phá vỡ hơn 30 trượng, gần như không thể giữ được nữa. Tướng Nguyễn Hữu Dật giữ lũy Sa Phụ chủ động đưa quân đến Trấn Ninh ứng cứu. Đang đêm, Hữu Dật sai lấy củi gỗ và cỏ kết lại làm đuốc soi sáng , quân Trịnh nghi có phục binh không dám tới gần. Ông lại sai quân sĩ dựng ván làm phên, lấy giỏ tre đựng đất đắp vá lại những đoạn lũy vỡ. Sáng hôm sau quân Trịnh tiến đánh lũy đã vững không thể hạ được. Chúa Nguyễn nghe tin ở Trấn Ninh nguy cấp sai sứ đến hỏi tin tức. Hữu Dật nói với sứ giả rằng:" Trước kia  ta ở Nghệ An, ta đi sâu vào đất khách mà quân Trịnh còn chẳng dám làm gì, huống chi nay ta lũy cao hào sâu, ta là chủ mà Trịnh là khách thì còn sợ gì nữa". Rồi Hữu Dật dâng biểu nói rằng :" Thần sức cố giữ và phá giặc để đền ơn nứớc, nếu có sơ suất sinh chuyện lo, xin theo quân pháp mà trị tội thần" Chúa Nguyễn xem biểu rồi nói:" Hữu Dật từ ngày lên làm tướng đến nay bày mưu định kế, đánh đâu được đấy. Nay nghe lời nói này ta không lo nữa".
Trong cuộc chiến này các con của Nguyễn Hữu Dật là Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Trung và Nguyễn Hữu Cảnh cùng sát cánh cùng cha trong từng trận chiến. Sau khi Nguyễn Hữu Dật đi tiếp cứu Trấn Ninh, Nguyên súy Nguyễn Hiệp đến giữ lũy Sa Phụ, cử Cai cơ Kiên Lễ đưa súng lớn đang đêm lên lũy Sa Chùy, phối hợp với thủy binh của Tham tướng Tài Lễ đánh chiến thuyền của quân Trịnh từ cửa biển Nhật Lệ tiến vào. Cuộc chiến trên lũy Trấn Ninh và trên sông Nhật Lệ diễn ra suốt mấy ngày, quân Trịnh bị đánh tan tác, thây chất thành đống.
Tháng 12, Trịnh Tạc thấy đánh Trấn Ninh đã mấy tháng không lấy được, trời lại rét mướt, quân lính tổn thất nhiều vội rước vua Lê Gia Tông về đóng ở Phù Lộ trên tả ngạn sông Gianh, sai Lê Thời Hiến giữ đồn Chính Thủy.
Sau mấy ngày chấn chỉnh quân binh, Lê Thời Hiến lại hợp với các đội quân của Trịnh đánh Trấn Ninh lần nữa. Nguyễn Hữu Dật cùng quân lính kiên cường chống giữ. Trong lúc đó, Nguyên súy Nguyễn Hiệp sai Cai cơ Ngô Thắng Lâm điều động 60 thớt voi đi dọc bãi biển Trường Sa, ở phía nam Động Hải rồi vào lũy Sa Phụ, cứ thế nhiều lần, lại sai lấy 4 binh thuyền chèo ra biển đến ngang cửa Ròn, sáng đi chiều về làm cho quân Trịnh tưởng có viện binh từ phía Nam ra, mất cả tinh thần chiến đấu. Trịnh Tạc đưa vua Lê rút về Đông Đô, cử Lê Thời Hiến thay trấn thủ Nghệ An, đóng dinh ở Hà Trung, chia binh đóng đồn ở các nơi trong Châu Bắc Bố Chính để phòng giữ.
Sau khi đánh bại quân Trịnh, Chúa Nguyễn về phủ Kim Long, tế cáo trời đất, tông miếu, gia phong và các vị thần linh, khao thưởng tướng sĩ và  miễn ba năm tô thuế cho nhân dan châu Bố Chính và nhân dân ở vùng Động Hải, miễn thuế thường tân và tiết liệu cho hai huyện Khương Lộc và Lệ Thủy thuộc dinh Quảng Bình.
Sau cuộc chiến năm Nhâm Tý (1672) chúa Trịnh chấm dứt các cuộc tiến binh vào đất Nguyễn, lấy sông Gianh làm giới tuyến, phía nam sông gọi là Nam Hà, hoặc Đàng Trong, phía bắc sông gọi là Bắc Hà, hoặc Đàng Ngoài.
Suốt gần 50 năm, vùng đất Quảng Bình ngày nay bao gồm Bắc Bố Chính, Nam Bố chính và phủ Quảnh Bình đã chịu những tổn thất nặng nề qua những cuộc chiến tranh của hai tập đoàn phong kiến Trịnh- Nguyễn. Đó là thời kỳ đầy biến động trong lịch sử khai thiết của  vùng đất Quảng Bình.
 
III. CÁC CHÚA NGUYỄN MỞ RỘNG LÃNH THỔ VỀ PHÍA NAM.
 
  1. Công cuộc mở cõi của các chúa Nguyễn.
Việc bảo vệ vững chắc phòng tuyến phía Bắc ở Quảng Bình đã tạo điều kiện cho các chúa Nguyễn mở rộng lãnh địa xuống phía Nam, xây dựng tiềm lực kinh tế, quân sự ngày càng vững mạnh. Dưới thời các chúa Nguyễn công cuộc Nam tiến mở cõi đã giành thắng lợi lớn, về cơ bản vùng đất phía Nam đã trở thành lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.
Khi Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa kiêm lãnh xứ Quảng Nam, đất cực nam của Quảng Nam là huyện Tuy Viễn, thuộc phủ Hoài Nhơn tức Tuy Phước, Bình Định ngày nay. Phía bên kia đèo Cù Mông là lãnh thổ của Chiêm Thành.
Năm Tân Hợi (1611), Nguyền Hoàng sai quân đánh Chiêm Thành lấy đất bên kia đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi đặt phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Đó là bước nam tiến đầu tiên của các chúa Nguyễn.
Lãnh thổ của các chúa Nguyễn lúc đó từ đèo Ngang (lúc này chưa có chiến tranh Trịnh Nguyễn nên phần bắc sông Gianh đến đèo Ngang thuộc châu Bố Chính, trấn Thuận Hóa của Nguyễn Hoàng) đến núi Thạch Bi. Chính vì lẽ đó mà trước khi mất, Nguyễn Hoàng căn dặn Nguyễn Nguyễn (chúa Hi Tông) rằng: “ Đất Thuận, Quảng phía bắc có núi Hoành Sơn và sông Gianh hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và Thạch Bi vững bền; núi sẵn vàng, sắt; biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng, nếu biết dạy dân, luyện binh để chống chọi với nhà Trịnh thì đủ để xây dựng cơ ngơi muôn đời”. Ý tưởng mở mang bờ cõi về phía Nam như các triều đại Lý, Trần, Lê được Nguyễn Hoàng nung nấu khi mở mang lãnh địa qua đèo Cù Mông đến Thạch Bi năm 1611.
  Năm Kỷ Tỵ (1629) khi Lưu thủ Phú Yên là Văn Phong dùng quân Chiêm làm phản. Lúc này quân Nguyễn đã duổi quân Trịnh khỏi chiến tuyến trên sông Nhật Lệ năm 1627, chúa Sãi có điều kiện đưa quân đi đánh dẹp và đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên[17]. Mở đất Phú Yên ngoài việc di dân, lập ấp, chúa Sãi còn chủ trương đưa 3 vạn quân Trịnh bị bắt trong cuộc chiến tranh năm Mậu Tý (1648) ở Quảng Bình khẩn hoang để “ trong khoảng mấy năm, thuế má có thể giúp quốc dụng, và sau hai mươi năm, sinh sản nhiều thêm có thể thêm vào quân số”. Số quân binh này được đưa về ở các địa phương từ Thăng, Điện đến Phú Yên, cứ 50 người làm một ấp, cấp cho lương ăn nửa năm, lại cho họ được khai thác mối lợi ở núi, đầm phá và ra lệnh cho nhà giàu bỏ thóc cho họ vay. Từ đó vùng Phú Yên làng xóm mọc lên liền nhau[18]
  Năm Quý Tỵ (1653), đời chúa Thái Tông (Nguyễn Phúc Tần) vượt núi Thạch Bi chiếm đến sông Phan Rang đặt dinh Thái Khương (sau đổi làm Bình Khương tức tỉnh Khánh Hòa ngày nay) chia làm hai phủ Thái Khương và Diên Ninh.
  Sau cuộc chiến tranh Nhâm Tý (1672) ở Quảng Bình thắng lợi, quân Trịnh rút lui về bờ bắc sông Gianh chấm dứt việc xâm lấn, chúa Nguyễn đẩy mạnh công cuộc khai thiết vùng đất mới ở Bình Khương và tiếp tục công cuộc Nam tiến về phương Nam. Thời chúa Hiển Tông ( Nguyễn Phúc Chu), năm Nhâm Thân (1692) vua Chiêm là Bà Tranh đem quân đánh phủ Diên Ninh, Chúa sai Cai cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh con của Nguyễn Hữu Dật làm Thống Binh, Văn chức Nguyễn Đình Quang làm Tham mưu đem quân đi đánh. Thống binh Nguyễn Hữu Cảnh đánh bại quân Chiêm bắt được Bà Tranh, nhưng công cuộc bình định vùng đất mới còn tiếp tục một thời gian sau đó.  Chúa Hiển Tông giao cho Cai cơ Nguyễn Hữu Cảnh và Văn chức Trinh Tường chỉ huy, dẹp loạn. Năm Đinh Sửu (1697), đặt phủ Bình Thuận, lấy đất từ Phan Rang, Phan Rí trở về phía tây chia làm hai huyện An Phước, Hòa Đa xây dựng quan hệ hòa hiếu giữa người Việt và người Chiêm ở vùng đất mới.
  Không chỉ dừng lại ở vùng đất Nam Trung Bộ, trong thời các chúa Nguyễn công cuộc Nam tiến không ngừng mở mang bờ cõi về phương nam. Năm Canh Ngọ (1690) đời chúa Anh Tông sai cai cơ Nguyễn Hữu Hào (con Nguyễn Hữu Dật, anh của Nguyễn Hữu Cảnh) vào Chân Lạp buộc vua Nặc Thu quy phục chúa Nguyễn.
Đặc biệt, năm Mậu Dần (1698) chúa Hiển Tông (Nguyễn Phúc Chu) sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược phía nam, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai đặt huyện Phước Long lập dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay); lấy xứ Sài Gòn đặt huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay). Mỗi dinh đều đặt chức Lưu Thủ, Cai Bạ, Ký Lục và các cơ, đội, thuyền, thủy, bộ, tinh binh và thuộc binh. Chúa còn sai chiêu mộ thêm lưu dân từ Bố Chính trử vào Nam đến ở, thiết lập xã, thôn, phường, ấp, chia rang giới, khai khẩn ruộng đất, đánh thuế tô, thuế dung, làm bộ đinh, bộ điền. Với phủ Gia Định bấy giờ số dân lên đến 4 vạn hộ.[19]
Công cuộc Nam tiến sau đó vẫn tiếp diễn cho đến khi hoàn thành công cuộc mở cõi để có giang sơn thống nhất đến tận Cà Mau như ngày nay.
Công cuộc mở cõi bắt đầu từ nhà Lý qua Trần, Lê và nhất là dưới thời các chúa Nguyễn, Quảng Bình không chỉ là vùng đất mở đầu cho quá trình Nam tiến, mà còn là bàn đạp quan trọng cho quá trình mở mang bờ cõi dưới thời các chúa Nguyễn. Trong suốt gần 50 năm (từ 1627 đến năm 1672) trong cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn người dân Quảng Bình phải đau nỗi đau chia cắt và nạn binh lửa triền miên. Biết bao sức người sức của, máu và nước mắt của người dân nơi đây đã đổ để giữ phòng tuyến Lũy Thầy, vùng phên dậu Đàng Trong giúp cho chúa Nguyễn mở mang cương vực vào phía Nam. Có những trận quyết chiến trên sông Nhật Lệ, trên những chiến lũy Trường Dục, Động Hải, An Náu, Sa Phụ các chúa Nguyễn mới có điều kiện tiến vào mở dinh Trấn Biên ( Phú Yên), Bình Khương ( Khánh Hòa) và sau đó lấy xứ Đồng Nai đặt huyện Phước Long lập dinh Trấn Biên (Biên Hòa); lấy xứ Sài Gòn đặt huyện Tân Bình lập dinh  Phiên Trấn (Gia Định). Như một cơ duyên, lịch sử giao cho hai người con Quảng Bình là Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Hữu Cảnh là mọt trong những người lính ấn tiên phong. Nguyễn Hữu Hào vào Đồng Nai, Mỹ Tho năm 1690 thay Mai Vạn Long buộc Nặc Thu vua Chân Lạp quy phục cúa Nguyễn.  Nguyễn Hữu Cảnh  làm Cai cơ trấn thủ dinh Trấn Biên ( Phú Yên), Chưởng cơ trấn thủ dinh Bình Khang và dinh Trấn Biên ( Biên Hòa), Phiên Trấn. Cùng với Nguyễn Hữu Cảnh, người dân Quảng Bình có mặt ở những vùng đất mới ở Phước Long, Tân Bình rồi đi xuống dần về  Tân An, Mỹ Tho, Rạch Gầm, Long Hồ, suốt vùng đồng bằng giữa sông Tiền, sông Hậu, qua cù lao Ông Chưởng đến tận Châu Đốc, Hà Tiên. Vào mở cõi phương Nam xa xôi, người Quảng Bình lòng vẫn nhớ cố hương, mới đem tên đất, tên làng đặt cho những vùng đất mới. Những Tân Bình, Bình Đông, Bình Tây như hoài niệm về vùng đất Lâm Bình- Tân Bình- Tiên Bình- Quảng Bình của cha ông. Có lúc họ nhắc lại tên một huyện như Phong Phú (Lệ Thủy) hay một huyện và một xã như Phong Đức (huyện Phong Lộc xã Đức Phổ). Nhiều thôn ấp được đặt tên như cũ: Phú Nhuận, Phú Thọ, An Lạc ( Lệ Thủy), Phú Mỹ, Thanh Hà ( Bố Trạch), Vĩnh Lộc ( Quảng Trạch). Ở vào địa đầu binh lửa trong cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn người xưa mang theo khát vọng hòa bình, và hoài cảm những tên đất, tên làng đến những vùng đất mới.
2. Những người lính tiên phong Trong cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn có một dòng họ đã có công lớn bảo vệ tuyến phòng thủ phía Bắc và mở cõi về phương Nam đó là dòng họ Nguyễn Hữu ở Phong Lộc, Quảng Bình.
Nguyễn Hữu Dật, sinh năm 1603 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn ( nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá) theo cha là Chưởng cơ Nguyễn Triều Văn vào định cư ở Phúc Tín, Vạn Xuân, huyện Phong Lộc (nay là xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình).
  Tương truyền, lúc còn nhỏ, Nguyễn Hữu Dật là một cậu bé thông minh, ham học, được cha dạy dỗ vừa giỏi võ nghệ vừa thích văn chương. Năm 16 tuổi, ông thi đỗ Hoa Văn do chúa Nguyễn Phúc Nguyên tổ chức . (Thời các Chúa Nguyễn không  mở đại khoa  lấy Tiến sĩ, Phó bảng mà chỉ có học vị Chính đồ và Hoa văn). Biết ông là người văn võ song toàn, nhưng tuổi còn trẻ, tính tình bộc trực, Chúa Sãi  Nguyễn Phúc Nguyên chỉ bổ Tham cơ vụ- một chức quan văn nhỏ trong phủ.
  Khởi nghiệp là một quan văn, nhưng đời ông lại gắn với binh nghiệp . Nguyễn Hữu Dật trở thành một vị tướng thao lược có những đóng góp to lớn trong các cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn bảo vệ vùng đất phên dậu của Chúa Nguyễn ở phía Bắc vào thế kỷ 17.
  Trong cuộc chiến tranh với quân Trịnh từ năm Đinh Mão (1627) đến cuộc năm Nhâm Tý (1672) Nguyễn Hữu Dật luôn là tướng tiên phong, có công lớn trong việc đánh bại các đợt tiến công của quân Trịnh. Trong những trận chiến đầu tiên, hai cha con Nguyễn Triều văn và Nguyễn Hữu Dật cùng chiến đấu dưới thời chúa Hi Tông- Nguyễn Phúc Nguyên và Thần Tông- Nguyễn Phúc Lan. Trong trận chiến năm Mậu Tý (1648), Nguyễn Hữu Dật làm Giám chiến chỉ huy bộ binh, Tham tướng Nguyễn Triều Văn chỉ huy thủy binh đánh đuổi quân Trịnh khỏi đất dinh Quảng Bình.
  Trong cuộc chiến năm Nâm Tý (1672), Nguyễn Hữu Dật cùng với các con là Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Trung, Nguyễn Hữu Cảnh đã cùng chiến đấu bảo vệ lũy Trấn Ninh, đuổi quân Trịnh ra khỏi vùng đất chúa Nguyễn, chấm dứt các cuộc chiến tranh trên đất Quảng Bình, chấp nhận lấy sông Gianh làm giới tuyến của Đàng Ngoài và Đàng Trong
Trong cuộc đời làm tướng của Nguyễn Hữu Dật không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, có lúc chịu oan sai, nhưng với tấm lòng trung nghĩa của một tướng đầy bản lĩnh đã giúp ông vượt qua những thử thách, gian khó.
Không chỉ là một vị tướng trí, dũng song toàn, Nguyễn Hữu Dật còn có một tấm lòng nhân hậu, vị tha, bác ái. Tấm lòng nhân hậu của Nguyễn Hữu Dật được binh lính và nhân dân trong vùng cảm phục gọi ông là Phật Bồ Tát.
Trong suốt gần 50 năm cuộc chiến tranhTrịnh Nguyễn, Nguyễn Hữu Dật luôn là vị tướng tiên phong, đứng mũi chịu sào lập công xuất sắc. Khi cuộc chiến kết thúc, ông về làm Trấn thủ tại đạo Lưu đồn và mất ở đó, thọ 78 tuổi. Chúa Nguyễn thương tiếc truy tặng là Chiêu quận công. Năm Gia Long thứ 4 liệt hạng Thượng đẳng khai quốc công thần, năm Minh Mạng thứ 12 truy tặng ông là Khai quốc công thần, phong tước Tĩnh Quốc Công, thờ ở Võ Miếu.
Các con ông là Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Trung, Nguyễn Hữu cảnh đều lập công lớn và được phong tước hầu, tước công. Đặc biệt có Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh , người có công kinh lược mở đất vùng Đồng Nai Gia Định vào thời các chúa Nguyễn ở cuối thế kỷ XVII, cùng với cha được liệt vào hạng Khai Quốc công thần của triều Nguyễn.
 
IV
KINH TÊ, VĂN HÓA- XÃ HỘI
THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN
Trong thời kỳ các chúa Nguyễn, mặc dù chiến tranh liên miên nhưng công cuộc khai thiết vùng đất Quảng Bình vẫn được nối tiếp các giai đoạn lịch sử trước đó.
  1. Sắp đặt hành chính.
Sau khi Nguyễn Hoàng đổi phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình, vùng đất Quảng Bình ngày nay gồm phủ Quảng Bình, châu Bố Chính. Sau khi chúa Trịnh đưa quân vào chiếm vùng phía Bắc sông Gianh và sau cuộc chiến tranh 1672 lấy sông Gianh làm ranh giới Đàng Ngoài, Đàng Trong thì Quảng Bình ngày nay có phủ Quảng Bình, Châu Nam Bố Chính thuộc chúa Nguyễn và Bắc Bố Chính thuộc đất chúa Trịnh.
Phủ Quảng Bình có 3 huyện 1 châu, cộng 200 xã, 28 thôn, 80 phường, 11 trang
Huyện Minh Linh có 5 tổng. Đại bộ phận các xã phường Minh Linh thuộc Quảng Trị ngày nay.
Huyện Lệ Thủy có 5 tổng
Tổng Thượng Phúc có 3 xã: Thượng Phúc Lộc, Xuân Hồi, Phú Long.
Tổng Thạch Xá có 6 xã, 1 thôn: Thạch Xá Thượng,Thạch Xá Hạ, An Duyệt, An Định, Phụ Việt, Chấp Lễ, Ba Nguyệt.
Tổng Đại Phúc Lộc có 4 thôn 1 phường: Đại Phúc Lộc, An Xá Hạ, Tuy Phúc, An Xá, Vạn Đại.
Tổng Thủy Liên có 14 xã 1 thôn 1 phường: Thủy Liên Thượng, Thủy Liên Trung, Thủy Liên Hạ, Phù Tôn, Đặng Lộc, Thủy Mỗi, Hoàng Công, Thủy Trung, Thủy Cần, Hòa Luật, Thượng Luật, Trung Luật, Liêm Luật, Thử Luật, Thử Mỗi
Tổng An Trạch có 8 phường: An Trạch, Cổ Liễu, Thổ Ngõa, Liêm Aí, Tâm Duyệt, Quy Hậu, Dương Xá, Uẩn Aó
Huyện Khang Lộc có 6 tổng:
Tổng An Lại có 13 xã: An Lại, Cư Triền, Mai Xá Thượng, Mai Xá Hạ, Phan Xá, Hoàng Giang, Cồn Bồ, Cáp Xá, Lê Xá, Chu Xá, Kim Xá, Phú An, Thạch Bồng Thượng.
Tổng Phúc Lộc có 5 xã: Phúc Lộc, Vĩnh Lộc, Lộc An, Vĩnh An, Phú Triều.
Tổng Thạch Bồng có 13 xã: Thạch Bồng Hạ, Tân Lệ, Ngô Xá, Lại Xá, Phú Bình, Lộc Xá, Trung An, Hoàng Viễn, Quốc xá, An Lộc, Phúc Toàn, Cao Xá, An Toàn.
Tổng Hoành Phổ có 20 xã: Hoành Phổ, Kim nại, Đại Toàn, Hữu Lộc, Phúc Nhĩ, Lộc Long, Đặng Xá, Nguyệt áng, Đặng Phúc, Mỹ Xá, Phúc Long, Cổ Hiền, Vĩnh Lộc, Cao Xuân, Gia Cốc, Phúc Lương, Phúc An, Vạn Toàn, Thủ Thừ, Nguyễn Thôn
Tổng Trung Quán có 12 xã 4 thôn 6 phường: Trung Quán, Trần Xá, Hữu Phan, Tã Phan, Hạ Bồng, Hữu Đăng, Diên Trường, Hàm Nhược, Hiển Vinh, Hiển Lộc, Bình Xá, Trấn Nhân, Cừ Thôn, Hà Thôn, Phúc Trì, Động Hải, Diêm Điền, Cảnh Dương, Mỹ Lệ, Cao Bình Nong, Cao Bình Lứa, cao Bình Chỉ.
Tổng An Đại có 16 xã 2 thôn 5 phường: An Đại, Trường Lục, Dục Tài, Phúc Duệ, Phúc Tuy, Trung Trinh, Cẩm La, Lương Yến, Kệ Kỳ, Chính Thỷu, An Xuân, Phương Phố, Minh Lý, Phú Xá, Phú Toàn, Lộc Đại, Phú Xuân, Phúc Nham, Bình Phúc, Dục Thi, Mỹ Cương.
Châu Nam Bố Chính có 2 tổng:
Tổng Trứ Lễ có 17 xã 7 phường 6 trang: Cao Lao, Đặng Đồ, Bồ Khê, Tiểu Ba, Liên Hương, Phương Liên, Đông Thành, Hoành Kính, Lâm An, Hà Môn, Hoàng Trung, Phúc Kính, Cổ Giang, Câu Lạc, Phúc An, Dã Lật, Gia Lộc Nội, Gia Lộc ngoại, Câu Hợp, Kim Sơn, Phong Nha, Gia Chiêu, Thanh Lăng, An Mỹ, Tân Châu, Cồn nam, Phú Xuân, Hoàng Hợp, Y, Giản, Hà Ao.
Tổng Lương Xá có 1 xã 16 thôn 6 phường 5 trang: An Lão, Phúc Tự, An Náu, Mỹ Lộc, Thiên Lộc, An Phúc, Hỷ Duyệt, An Lễ, Cự Nẫm, Khương Hà, Thuận An, Đồng Cao, Phúc Lộc, Nam Phúc, Hòa Duyệt, Điển Phúc, Toàn Thuận, Phúc Lộc, Cẩm Lộc, Miên Lộc, Xuân Hòa, Thổ Tượng, Lý Hòa, Thuận Cô, Thanh Hà, An Náu, Dinh Thị, Cồn Đồi.
( Về các đơn vị hành chính của châu Bắc Bố Chính sách Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn không thấy ghi. Đây là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu)    
2. Kinh tế
Công cuộc khai thiết vùng đất Quảng Bình thời kỳ này chủ yếu là tập trung phát triển nông nghiệp nhằm bảo đảm lương thực cho quân đội và đời sống của nhân dân trong vùng. Để đẩy mạnh sản xuất các chúa Nguyễn đã có một số cải cách trong nông nghiệp. Trước đây, vùng này chưa có định ngạch, mỗi khi ruộng gặt xong quan sai đến xét số ruộng mà thu thuế. Đời chúa Hi Tông Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), năm Mậu Ngọ (1618), sai đo đạc ruộng công của các xã để thu thuế. Đến đời Thái Tông Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) việc đo đạc mới hoàn chỉnh, các hạng ruộng đất và các ngạch thuế được ấn định rõ ràng hơn. Năm Kỷ Dậu chúa cho quan đi đạc lại ruộng đất thực cày cấy của các xã và định hạng làm 3 hạng, chia các hạng theo mùa vụ mà thu thuế. Ruộng đất dưới thời các chúa Nguyễn gồm có: ruộng công là ruộng công của các xã chia cho dân cày cấy, nộp thuế; ruộng quan đồn điền là ruộng quân lính khai khẩn, thuộc về nhà nước; ruộng quan điền trang là ruộng công của nhà nước. Chúa Nguyễn khuyến khích việc khai hoang, đề ra chính sách người nào có sức khai khẩn rừng hoang để làm ruộng thì cho làm ruộng tư, gọi là " bản bức tư điền", được giữ vĩnh viễn mà nạp thuế riêng, xã không được tranh chiếm. Nhờ chính sách này mà dân chúng khẩn hoang được nhiều ruộng.
Công điền do ty Tướng thần hoặc bộ Hộ giữ sổ sách thu, nạp lúa tô vchứa ở kho địa phương sở tại ; còn quan đồn điền, quan điền trang đất bãi bồi, ruộng hoang mới khai khẩn thì do ty Nội lênh giữ sổ sách, cấp ngụ lộc cho các quan, còn dư thì thì cho nộp vào nội phủ. Về sau chúa Thái Tông thấy ruộng hoang khai khẩn ngày một nhiều mới đặt ra ty Nông lại để coi việc thu thuế ruộng mới khai phá.
Phép tính thuế đất của chúa Nguyễn phân biệt sản vật các nơi khác nhau để thu thuế: một là rừng núi, hai là sông biển, ba là cồn gò, bốn là bờ bãi, năm là đồng và đất trũng (cao phẳng là đồng, thấp ướt là trũng). Các loại đồng đất được phân thành 12 hạng để dạy cho dân biết canh tác theo từng loại đất (như ruộng cao thì trồng lúa mạch, ruộng thấp thì trồng lúa tẻ, cồn gò cao thì trồng đay, trồng dâu...). Việc phân chia hạng đất, sản vật theo từng thứ đất đã tạo điều kiện cho người dân tiện việc cày cấy, đóng nộp thuế cho nhà nước đầy đủ nhẹ nhàng, yên tâm làm ăn. Để khuyến khích sản xuất, các chúa Nguyễn còn quy định, dân ở xã mới về (nơi mới vào đất chúa Nguyễn), hoặc dân mới đến ở thì cho 3 năm yên ổn làm ăn, hết hạn mới lấy người ấy vào lính. Họ Nguyễn có chủ trương tạo công ăn việc làm, có nghề nghiệp gốc gắn bó với làng xóm để có của cải (hằng sản) từ đó mà có tâm đức (lòng thường). " Không có gì dở bằng làm cho dân coi nhẹ bỏ làng, đó gọi là không có của thường thì không có lòng thường"[20]. Đối với người dân Quảng Bình, Lê Quý Đôn nhận xét: " Xứ Thuận Hóa, phủ Quảng Bình tính dân thật thà và tốt, đều yên phận làm ăn ở thôn quê, ít khi ra ngoài đi xa, có khi không biết huyện bên cạnh đi đường lối nào, không biết Phú Xuân phong cảnh thế nào"[21].
Chính nhờ có những chính sách khuyến nông mà dưới các thời chúa Nguyễn xứ Thuận Hóa nói chung và các châu huyện ở Quảng Bình nói riêng nông nghiệp phát triển nhiều năm được mùa, thóc gạo dư dôi có lương thực bảo đảm cho cuộc chiến.
Trong thời các chúa Nguyễn ruộng đất ở Quảng Bình được thống kê như sau:
Huyện Lệ Thủy, ruộng đất là 16.643 mẫu 5 sào 12 thước, trong đó trừ bỏ hoang 7.832 mẫu 5 sào 10 thước 8 tấc, ruộng thực còn canh tác là 8.011 mẫu 1 thước 2 tấc.
Huyện Khang Lộc, ruộng đất là 41.604 mẫu 5 sào 4 thước 9 tấc 5 phân, trong đó trừ bỏ hoang 21.237 mẫu 7 sào 11 thước 5 phân thực còn canh tác là 20.366 mẫu 7 sào 8 thước 9 tấc
Châu Nam Bố Chính, ruộng đất là 28.173 mẫu 8 sào 3 tấc, trong đó bỏ hoang là 20.831 mẫu 3 thước, thực còn là 7.342 mẫu 6 sào 12 thước 3 tấc.
Nói về ruộng đất của hai huyện Lệ Thủy và Khang Lộc, sách Phủ Biên tạp lục chép như sau:
" Huyện Lệ Thủy xóm làng liền nhau, đều là đất bùn ruộng cát, dưới thì gần đầm một ải rộng rãi, ruộng thì lầy bùn, mỗi năm hai vụ lúa, vụ hạ cấy lúa tẻ có thứ gọi là lúa chiên thông, thóc gạo đều trắng, hạt nhỏ hợp với ruộng cát, tháng 11 cấy, tháng 4 chín; có thứ tên là lúa nước mặn, thóc trắng, gạo đỏ, hạt to, hợp với ruộng sâu, tháng giêng cấy, tháng 5 chín. Giống lúa nếp thì có thư tênlà nếp măng, thóc đỏ gạo trắng; có thứ tên là nếp ngựa, nhưng cũng có râu, cơm hơi mặn, có thứ nếp hạt cau, thóc đỏ gạo trắng mà tròn hợp với ruộng sâu, tháng 12 cấy tháng 4 chín. Vụ thu giống lúa tẻ thì có thứ tên là chăm hót, lại có tên là bát nguyệt, thóc đỏ, gạo trắng, hạt nhỏ, ruộng bùn, ruộng cát đều cấy được, cơm dẻo, tháng 3 gieo mạ, tháng 5 tháng 6 cấy, tháng 8 chín. Giống nếp thì có nếp trứng, thóc gạo đều trắng, hạt tròn, cơm cứng hợp với ruộng cát, tháng 6 cấy tháng 10 chín; có thứ là nếp bầu hương, hoa trắng vỏ thóc có lông, gạo trắng mà tròn, lớn hạt, cơm dẻo, vị lạt hợp với ruộng cát; có thứ nếp chăm, hoa trắng, thóc đỏ có râu, gạo trắng mà tròn lớn, cơm thơm dẻo, hơi mặn hợp với ruộng bùn...
Huyện Khang Lộc, lúa tẻ thì nhiều lúa chiêm thông, cấy ruộng cát ruộng bùn đều được; lại có nhiều lúa nước mặn. Lúa nếp thì giống huyện Lệ Thủy chỉ không có hai thứ bầu hương và nếp chăm mà thôi"[22]
Phát triển sản xuất nông nghiệp thời các chúa Nguyễn làm cho nhu cầu lao động tăng theo. Việc thuê mướn nhân công cấy hái cũng vậy mà đắt đỏ hơn. Trước đây công điền của huyện Lệ Thủy, Khang Lộc mướn người cày mỗi mẫu mỗi vụ chỉ có 3,4 quan tiền kẻm thì nay đến 20 quan. Trâu cày giá cũng đắt hơn, trâu lớn đến 120 quan tiền kẻm, trâu nhỏ 80 quan[23]
Về chế độ quan thuế dưới chế độ chúa Nguyễn từ năm 1669 được thực hiện như sau:
  Ruộng công nhất đẳng điền, mỗi mẫu nộp thuế bằng lúa 40 thăng( bằng 40 bát quan đồng); nhị đẳng mỗi mẫu 30 thăng; tam đẳng mỗi mẩu 30 thăng.
  Ruộng khô thì theo từng hạng đất nộp bằng tiền. Ruộng hoang mới khai phá nộp mỗi mẩu 3 tiền. Các hạng ruộng công, tư phải nộp gạo.
  Theo sổ sách thóc tô ruộng công và ruộng tư ở huyện Khang Lộc là 411.579 thưng 6 cáp, trừ các khoản được miễn còn thực thu là 389.500 thưng; huyện Lệ Thủy là 225.272 thưng, trừ được miễn còn thực thu là
185.270 thưng; châu Nam Bố Chính là 163.387 thưng 8 cáp, trừ được miễn còn thực thu là 134.823 thưng. Ngoài ra, ruộng quan đồn điền, quan điền trang cùng với ruộng mới khai hoang, đất bãi thu riêng
  Mỗi năm đến kỳ thu thuế, các xã, thôn và công điền đem thóc gạo đến nạp ở đình làng rồi đưa đến các kho công, các quan phụ trách thu thuế chiếu theo sổ mà thu và giao lại cho quan Đề lãnh kho đem cất giữ. Trên đất Quảng Bình có 3 kho lương lớn là kho An Trạch ở huyện Lệ Thủy, kho Trung Trinh và kho Trường Dục ở huyện Khương Lộc ( Quảng Ninh ngày nay). Kho chứa lúa là những tấm cót tre dài 8 thước, rộng 7,5 thước và do người có ruộng phải đóng góp. Cứ nạp 1000 thăng lúa thì phải góp 5 tấm cót, nếu thay bằng tiền thì mỗi tấm cót là 2 tiền. Ngoài việc dùng làm kho, người ta còn thu thêm mỗi huyện 100 tấm cót tính bằng tiền để làm ngụ lộc cho các quan, viên chức coi việc thu thuế và lính giữ kho ... Ngoài ra các xã còn phải nộp tiền khoán khố là tiền dùng cho việc sửa chữa kho khi hư hỏng. Theo Phủ biên tạp lục thì kho An Trạch có 8 nhà kho: kho đạo Lưu Đồn 1 có 45 gian, kho 2 có 42 gian; kho dinh Quảng Bình 1 có 45 gian, kho 2 có 42 gian chúa gạo từ Quy Nhơn, Gia Định về để cung cấp cho binh lính đang trấn thủ ở đây và chuẩn bị phục vụ cho các cuộc chiến; kho huyện Khang Lộc 1 có 52 gian, kho 2 có 43 gian chứa thóc tô ruộng và tiền gạo điền mẫu của huyện ấy, lại có 29 gian chứa mắm muối do 20 lính canh giữ. Kho huyện Lệ Thủy 1 có 52 gian, kho 2 có 43 gian, chứa thóc tô ruộng và tiền gạo điền mẫu của Lệ Thủy với 20 lính canh giữ. Kho trung Trinh huyện Khang Lộc chứa thóc chở từ các khoKiền Dương, Phương Lan ở Quảng Nam về. Kho trường Dục ở xã Trường Dục huyện Khang Lộc chứa thóc tô ruộng của châu Nam Bố Chính và 3 tổng huyện Khang Lộc có 20 lính canh giữ. Tổng các kho ở đây có tới 369 gian[24]
  Những kho ở phủ Quảng Bình không chỉ là nơi chứa thóc thuế ở địa phương mà chủ yếu là chứa thóc gạo phục vụ cho quân đội trên đất Quảng Bình nên mới có quy mô lớn đến vậy. Khi chiến tranh xẩy ra, chúa Nguyễn không chỉ huy động nguồn lương thực tại chỗ mà còn huy động nguồn lương thực từ các châu phủ phía trong Thuận Quảng ra.
  Ngoài thuế điền, các chúa Nguyễn còn thu các thứ thuế đầu nguồn, tuần ty, đầm,  hồ, chợ và các loại thuế phụ khác. Ví như năm Mậu Tý ( 1768), ba nguồn ở huyện Khang lộc phải nộp thuế ngụ lộc cho các quan trấn thủ là 600 quan tiền. Trong đó nguồn An Đại 189 quan 3 tiền, nguồn An Náu 235 quan 9 tiền, nguồn Cẩm Lý 64 quan cùng các sản vật khác như mật ong, sáp ong các vị làm thuốc nhu khổ lô...
  Nhìn chung thuế khóa dưới chế độ họ Nguyễn là khá nặng nề. Riêng đối với các huyện và châu ở Quảng Bình, các chúa Nguyễn có cho miễn giảm một số khoản thu không phải nộp "vì là phải đắp trường lũy khó nhọc" như hai huyện Lệ Thủy, Khang Lộc được miễn tiền thường tân, tiền tết; huyện Khang Lộc được giảm các loại thuế cho các hạng người khác nhau như hạng dân chỉ 1 quan 4 tiền, hạng lão 1 quan 6 tiền, hạng quân 2 quan 1 tiền, thấp hơn các nơi khác. Châu Nam Bố Chính chỉ nộp tiền sai dư được miễn các tiền gạo cước, thường tân, tết; hạng đào không phải nộp.[25]
Địa giới Quảng Bình ngày nay thời Trịnh Nguyễn phía Bắc còn có châu Bắc Bố Chính thuộc phủ Kỳ Hoa xứ Nghệ An thuộc họ Trịnh. Tình hình sản xuất ở Bắc Bố Chính không thấy các sách cũ nói đến nhiều chỉ thấy trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn có viết như sau:
"Ruộng đất châu Bắc Bố Chính tốt màu, một mẫu bằng bốn mẫu xứ khác..., cho nên mỗi mẫu gặt được 120 gánh, hạng kém cũng được 100 gánh hay 90 gánh..." nhưng " Ở chỗ phân giới xưa trên sông Son có chỗ bỏ trống là cồn Bồi, cồn Thị, cồn Cấm, dân hai bên không dám cấy cày, cây cỏ thành rừng... Châu Bắc Bố Chính có nguồn Sa Cơ gồm 7 thôn phường là: trang Ma Nai, phường Mít, thôn Bộc Thọ, phường Kim Bảng, phường Lỗ Hang, phường Đồng Sai, phường Lãng Trần; nguồn Kim Linh gồm 8 thôn phường là: phường Cổ Liêm, phường Quy Viễn, trang Làng Nê, phường Phúc Lạc, phường Phúc Chử, thôn Cầu Dồng, thôn Câu Câu, thôn Bà Nàng. Ruộng đất ven rừng rất tốt, dân cư cũng đông... Châu Bắc Bố Chính, dân ở nước làm nghề chài cá, lại quen lên thượng lưu lấy ván đóng thuyền, có phường Đáy Võng, Giáp Ba, Cương Gián, giáp Trung Hòa hạ..."[26]
Ngoài việc trồng trọt, chủ yếu là trồng lúa và cây lương thực và chăn nuôi, cư dân ở các châu huyện thuộc phủ Quảng Bình và Châu Bắc bố Chính còn sống nhờ kinh tế hái lượm, săn bắt các sản phẩm lấy từ rừng. Các sản vật đó một phần nuôi sống bản thân họ nhưng cũng để cống nộp quan lại hoặc đóng các thứ thuế do họ Nguyễn và họ Trịnh quy định. Ở châu Bắc Bố Chính, quan trấn thủ Nghệ An sai người ở các nguồn đi thu mỗi năm nộp cho quan 10 hũ mật, 10 ống sáp, 10 cây gỗ nu, 10 cây gỗ mun, 70 cây gỗ chầy sên và kiền kiền, ngà voi để thế tiền thuế 30 quan.
Cùng với nông nghiệp các ngành tiểu thủ công nghiệp ở các huyện, châu ở phủ Quảng Bình thời kỳ này đã có bước phát triển mới để phục vụ sản xuất và bảo đảm cho chiến tranh. Đặc biệt nghề làm muối trong thời kỳ này phát triển mạnh vì nó là mặt hàng không thể thiếu được trong đời sống của lực lượng binh lính đóng trên địa bàn và dân cư trong vùng. Nghề làm muối lúc này chủ yếu là đem thuyền ra cửa biển chở nước mặn về cho vào chảo lớn nấu cho cạn nước khô kết thành muối, màu đen và đắng nhưng giá muối rất đắt, mỗi chén muối nhỏ đến 30 đồng. Sau này do chính sách khuyến khích của chúa Nguyễn ra hiểu dụ khuyến khích làm muối, bắt kẻ quấy nhiễu, giảm thuế cho giao dịch mua bán, từ đó những xã thôn ở gần biển mở nhiều lò nấu. Ngoài các vùng có nhiều lò muối trước đây như Di Loan, Hà Cừ, Bình Phúc, Trấn Ninh huyện Khang Lộc nhiều nơi mở thêm nhiều lò muối như trang Đồng Cao châu Nam Bố Chính mở 80 lò ; thôn Nại thuộc xã Hà Cừ mở 50 lò. Số lò muối mới mở chưa bổ thuế, giá muối giảm, đủ dùng cho binh lính và dân cư trong vùng. Thuế ruộng muối : ở Di Luân ( thuộc Bắc Bố Chính) mỗi năm 65 sọt ; Các địa phương thuộc đất Nguyễn ở huyện Khang Lộc : xã Hà Cừ  84 sọt, Bình Phúc 77 sọt, Trấn Ninh 82 sọt
Cùng với việc phát triển nghề muối, nghề đánh cá, làm mắn cũng phát triển. Chúa Nguyễn định ra chế độ thu thuế nghề cá là thu mắm, lấy số người làm nghề cá và số tay lưới để tính thuế. Hạng 1 (hạng tráng) người có lưới nộp thuế 4 chĩnh mắm, người không có lưới nộp 3 chĩnh ; hạng 2 (hạng quân) có lưới nộp 3 chĩnh ; hạng 3, hạng 4 (hạng dân, hạng lão) có lưới nộp 2 chĩnh, không có lưới miễn thuế… Năm Kỷ Sửu ở huyện Lệ Thủy xã Thử Luật  thuế là 600 chĩnh, xã Liêm Luật 371 chĩnh, xã Thượng Luật 350 chĩnh, Trung Luật 585 chĩnh, Hòa luật 300 chĩnh. châu Nam Bố Chính thôn Thuậ Cô thuế 201 chĩnh, Thượng Lễ 15 chĩnh. Cũng có thể nộp thuế thay bằng tiền, mỗi chĩnh 1 tiền, 10 chĩnh 1 quan.
Nghề dệt thủ công phát triển. Phủ biên tạp lục viết  Cả huyện Khang lộc đều dệt vải, không dệt chỉ một vài xã thôi. Các xã Võ Xá, Bình Xá có nghề dệt lụa. Xã Đại Phước và Tuy Lộc ( Lệ Thủy) có nghê dệt lát làm chiếu, tục gọi là chiếu đệm, cũng dùng làm buồm ; Đại Phước và Lội Tuy có nghề làm giấy bằng võ cây niệt, không khác gì giấy lệnh ở Thanh Hóa. Các xã Bình Xá, Võ Xá thì có nghề dệt lụa , làm muối...đóng thuyền..
Xã Điển Phúc ở châu Bố Chính có nghề luyện sắt, mỗi năm nộp 500 khối, mỗi khối 25 kg, dân xã đó được trừ sưu dịch.
Đặc biệt ở xã Phan Xá, Hoàng Giang thuộc huyện Phúc Lộc có thợ lành nghề đúc súng đồng. Các chúa Nguyễn cho lập những công xưởng, tổ chức như quân đội. Chúa Nguyễn lấy 60 người ở Phan Xá chia làm hai đội thợ Tả súngHữu súng lương mỗi người hàng năm là 10 thúng thóc và 5 quan tiền. Đúc súng trụ thì mỗi khẩu phát 15 khối sắt, 10 cân gang, 1 lường dầu và 3,5 quan tiền than. Đúc súng nhỏ thì cứ 10 khẩu phát 30 khối sắt, 30 cân gang, 10 quan tiền than. Lấy 40 người Hoàng Giang làm ty thợ Nội súng lương hàng năm 10 hộc gạo và 5 quan tiền. Quân ba đội Tả súng, Hữu súng và Nội súng chỉ đúc nòng súng còn đinh súng thì thợ rèn làm, cò súng thì thợ bạc làm và báng súng thì thợ mộc làm.
Yêu cầu của việc phục vụ các cuộc chiến tranh đòi hỏi phải phát triển lực lượng vận chuyển, đặc biệt là vận chuyển lương thực. Do lương thực tại chỗ không đủ phải chở thóc từ Quảng Nam ra cấp cho quân đội. Dọc các bờ biển từ châu Nam Bố Chính trở vào trong, ai có thuyền ghe tư đều ghi vào sổ nhà nước quản lý. Phủ Quảng Bình có 10 chiếc, châu Bố Chính có 18 chiếc. Chúa Nguyễn đặt ra quan coi việc chuyên chở và thu thuế. Thuế được đánh theo lòng thuyền ghe rộng hay hẹp. Thuyền rộng 11 thước (khoảng hơn 4  mét) nộp 11 quan, 9 thước nộp 9 quan, 4 thước nộp 4 quan. Sau chiến tranh, việc buôn bán giao lưu sản phẩm giữa các nơi trong xứ, trong phủ, giữa miền xuôi và miền ngược được thuận lợi. Họ Nguyễn khuyến khích việc giao lưu giũa các vùng nên có quan giữ việc thông thương đường xá trong nước để tài lợi được lưu thông. Trong thời kỳ này nhiều chợ và có những vùng thương nghiệp phát triển mạnh. Sách Phủ biên tạp lục viết: « Thôn Lý Hòa châu Nam Bố Chính... nhân đinh thịnh vượng đến hơn nghìn người. Tục quen buôn bán, bình thời vào Gia Định đóng thuyền nan lớn đến trăm chiếc, mỗi chiếc giá hơn nghìn quan đem về bán lại »
  3.Văn hóa- xã hội
Dân cư đời sống. Tháng 11 năm Mậu Ngọ ( 1558) Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trana Thuận Hóa. “Nguyễn Hoàng là người trầm tĩnh cương nghị, lại có mưu lược, đối với quân sĩ có độ lượng khoan dung giản dị” nên “nhiều người quê hương ở Tống Sơn và Nghĩa Dũng ở Thanh Nghệ đều dắt díu gia quyến vui vẻ đi theo[27] Khi vào trấn giữ Thuận Hoá và sau đó thêm Quảng Nam, Nguyễn Hoàng đã thực thi nhiều chính sách cải cách phát triển kinh tế nhằm ổn định vùng đất vốn có nhiều khó khăn lúc bấy giờ. Sách Thực lục tiền biên chép:" Chúa vỗ về quân dân, nhẹ xâu thuế, dân chúng vui, phục, thường gọi là Chúa Tiên"[28]. Chính sách của Nguyễn Hoàng là " chính trị khoan hoà, thương ra ân huệ, dùng pháp luật công bằng, răn giới bản bộ, cấm trấp kẻ hung dữ, dân hai trấn cảm ân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không hai giá, dân không ăn trộm, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến buôn bán, quân lệnh ngiêm túc, mọi người đều cố gắng, vì vậy không ai dám dòm ngó, dân trong xứ đều được an cư lạc nghiệp"[29] . Trong thời kỳ Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Quảng nhiều năm được mùa, trăm họ giàu mạnh. Đời sống của cư dân lạc nghiệp, Đoan quận công là người  mộ đạo Phật nên đã cho xây nhiều ngôi chùa trên lãnh thổ của mình cũng là để góp phần giáo hoá thiện tâm cho dân chúng trong vùng, trong đó có chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch ( thuộc Quảng Bình)[30].
Với chính sách an dân, chính trị khoan hòa, đời sống nhân dân được cải thiện, hơn nữa thời kỳ đó phía bắc mất mùa đói kém nên nhiều cư dân từ Nghệ An trở ra chạy vào Thuận Quảng ngày càng nhiều[31]. Chính vì thế, nhiều cư dân ở ngoài Bắc vào định cư ở phủ Quảng Bình ngày càng nhiều đặc biệt là ở Phong Lộc, Lệ Thủy. Dân cư Quảng Bình tăng lên đáng kể.
Một đặc điểm nổi bật trong thời kỳ này là khi chiến tranh với chúa Trịnh xẩy ra, chúa Nguyễn phải điều động quân lính và dân binh ở các dinh phía trong ra trấn giữ. Chiến tranh kéo dài và chia làm nhiều đợt nên số quân binh ra ngày càng đông. Số quân binh này khi chiến tranh thì phục vụ quân đội các dinh, đội, thuyền, khi tạm ngưng chiến họ tham gia sản xuất. Một số đơn vị chúa Nguyễn sau này biến thành các làng xóm nhất là ở các vùng có chiến sự ở vùng sông Nhật Lệ như làng Trung Nghĩa, Hữu Cung, Tiền Thiệp, Kiên Bính, Bình Phúc.v.v. Bên cạnh việc di dân người  vùng trong ra Quảng Bình nói trên lại có việc di dân người Quảng Bình vào các dinh phía Nam một do đời sống khó khăn, chiến tranh phiêu bạt và nhất là cuộc di dân theo chủ trương của chúa Nguyễn vào khai phá vùng Đồng Nai, Gia Định khi Ngyễn Hữu Cảnh lập các dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn cuối thế kỷ XVII.
Trong thời các chúa Nguyễn, mặc dù công cuộc khai thiết đã có những bước tiến so với các thời kỳ trước đây, song do chiến tranh liên miên đời sống nhân dân vùng Quảng Bình vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Trong Việt sử xú Đàng Trong, tác giá Phan Khoang viết: “ Trong cuộc chiến tranh với họ Trịnh non nửa thế kỷ, chỉ dân dinh Ngói, dinh Mười ngày nay là chịu nạn binh lửa, còn các dinh khác thì chỉ cấp binh lính mà thôi.”[32]  Đó là nạn lao dịch, bắt lính, đói kém mà trong suốt thời kỳ chiến tranh nhân dân Quảng Bình ở cả phía Bắc của chúa Trịnh và phía Nam của chúa Nguyễn phải chịu đựng. Ngoài nạn binh lửa, nhân dân Quảng Bình phải chịu đựng nhiều thiên tai, bào lụt, mất mùa, đói kém. Mặc dù các chúa Nguyễn đã có giảm sự đóng góp phần nào cho người dân vùng có chiến tranh nhưng chế độ “sưu thuế nặng nề, quan lại rất nhiều nha môn nhũng nhiễu, những kẻ sai phái của bề trên quyền thế ức hiếp, nên không khỏi có người thất sở, xiêu tán”.  Tuy có chế độ tuyển quân và phép duyệt tuyển lựa chọn hạng dân phải đi lính nhưng nạn bắt lính sung quân diễn ra khá gay gắt, quyết liệt: “ Cứ mỗi năm vào khoảng tháng 3, tháng 4, quân nhân ra các làng bắt dân 16 tuổi trở lên, thể chất cường tráng, xiềng cổ bằng một cái gông tre, hình như cái thang nhưng hẹp hơn, đem về sung quân, cho học một nghề chuyên môn, học thành nghề rồi phân bát vào đội chiến thuyền để luyện tập, lúc hữu sự ra trận đánh giặc, vô sự bắt làm công dịch trong quan phủ, chưa được 60 tuổi chưa cho về làng, vì thế dân còn lại ốm yếu, bệnh tật ít có người tráng kiện[33]
Trên đất Quảng Bình, không chỉ ở Đàng Trong của chúa Nguyễn mà ở Đàng Ngoài, châu Bắc Bố Chính của chúa Trịnh nhân dân cũng phải chịu lao dịch, thuế hóa nặng nề và nạn bắt lính cũng diễn ra không kém phần gay gắt. Đơn cử ở xã Cảnh Dương nơi địa đầu của chúa Trịnh, hàng năm phải chịu cảnh bắt phu bắt lính và tô thuế nặng nề như sau:
Năm Giáp Thìn (1664), chúa Trịnh bắt dân phải đóng góp sản vật của Cảnh Dơng là mắm Hàm Hương do quản bản trấn ghi chép và thu. Năm Canh Tuất (1670) thu mắm Hàm Hương là 400 chỉnh. Năm Giáp Thìn thu 480 chỉnh. Việc bắt lính chỉ trong một xã Cảnh Dương năm Giáp Thân (1764) cho cơ Kiến Trung là 7 người, cơ Tiền Kiên 7 người và cho cơ đồn trú ven biển là 12 người, cộng 28 người. Ngoài ra quân Trịnh còn bắt người Cảnh Dương phu phen tạp dịch, chạy giấy, làm lính tiền đạo dẫn đường cho quân đội trong mỗi cuộc hành quân đánh quân Nguyễn. Về sự kiện này gai phả ở Cảnh Dương có đọa như sau: “ Ngày 15 tháng tư năm Nhâm Tý (1672) niên hiệu Dương Đức ( vua Lê Gia Tông) năm thứ nhất, chỉ truyền xã Cảnh Dương, thuộc Bố Chính tiếp cận biên thùy, hiểu đường biển có thể ứng đáp, lấy tiếng dân “ Kiến Nghĩa” để dẫn đường phòng đá rạng, tránh cho ghe thuyền khỏi bị chìm ngoài biển. Cấp cho xã một thẻ bài ghi công đức với nhà nước”[34]
Đời chúa Thế Tông Nguyễn Phúc Khoát, năm Bính Dần (1746) cho đúc tiền kẽm thay các loại tiền đồng trước đó đã gây ra một cuộc khoảng hoảng tiền tệ, nhà giàu giữ lúa không chịu bán ra, nạn đói hoành hoành khắp Thuận Quảng, đặc biệt là vùng Quảng Bình khi quân Trịnh vượt sông Gianh đánh vào Thuận Hóa, phía Nam quân Tây Sơn đã nổi dậy.
Đời sống tinh thần: Ở giai đoạn đầu dưới thời chúa Tiên chưa có chiến tranh, Nguyễn Hoàng có cho xây dựng lại chùa Kính Thiên (1659) và sau đó đến đời chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu cho sửa lại ngự đề bức hoành phi đại tự “ Vô song phúc địa” với tư tưởng câu đối đề cao Phật giáo:
-Huyền bảo kính vu không đường, sâm nghiêm vạn tượng; Xán tâm đăng vi tính địa, diệu chứng vô vi ( Nhà không khoáng treo gương quý; muôn tượng giăng bày chỗ tính linh rạng đèn lòng vô vi mầu nhiệm)
Đại đạo hoằng nhân, địa bố hoàng kim, liên hoa pháp giới; Thường sa hiện tướng, tọa liên bích ngọc, thủy nguyệt thiền tâm (Đạo rộng lớn mở người, cõi pháp sen vàng khắp đất. Cát hằng hà hiện tướng, lòng thiền trăng nước ngọc liền tòa)
- Đài tâm lý chi hương, kim lô bảo triệu tường vân hợp; Thức huyện trung chi hiệu, bố diệp linh vân pháp vũ quân (Hướng lòng dâng cao, khói triệu đỉnh vàng, mây lanhg hợp một: Diệu huyền hiểu được, văn thiêng lá bối, nưa ngọt tười đều).
- Náo thị kiến thiền quang, đông trung năng tĩnh; Vi trần minh tự tính, hữu bản vô tôn. (Cửa thiền giữa ồn ào, động mà hay tĩnh; Tính rõ mảy bụi, có vốn tự không)
- Nhất thanh phổ độ dã, từ bi cổ phật; ức sinh giáo hóa dã, hoằng nguyện như lai ( Rắp một niềm từ bi phổ độ; Mong chúng sinh đến cõi thứ hai)[35]
Các chúa Nguyễn quan tâm chấn hưng Phật giáo, nhưng sau đó chiến tranh liên miên, các chùa không được đầu tư tôn tạo, đạo Phật không được phát triển như các thời kỳ trước đây.
Về phong tục tập quán: Trước khi vào trấn thủ Thuận Hóa, ở Bố Chính, Tân Bình có vùng người dân còn ăn mặc theo kiểu người Chàm. Từ khi Nguyễn Hoàng vào, người Việt đông thêm mang theo y phục, lối sống của người miền Bắc. Tương truyền rằng, để định chế khác với họ Trịnh, Lộc Khê hầu Đào Duy Từ đã khuyên chúa Hy Tông Nguyễn Phúc Nguyên bắt dân thay đổi tập tục cho khác dân Bắc như bỏ nón thượng, đội nón chóp, bỏ quần màu đen mặc quần màu nâu. Phụ nữ bỏ áo tứ thân bày yếm mặc áo 5 thân cài khuy, bỏ tóc bao mà bối tó và bỏ váy để mặc quần.
Về việc học và văn học: Các chúa Nguyễn không lập trường học công mà để dân tùy ý lập trường tư dạy học, chính quyền chỉ tổ chức các kỳ thi. Đời chúa Hi Tông Nguyễn Phúc Nguyên, năm 1632 bắt đầu thi hành phép duyệt tuyển và mỗi kỳ duyệt tuyển thì học trò các huyện đến trấn dinh để khảo thí trong một ngày. Kỳ thi ấy gọi là Quận thí mùa xuân. Đề thi có một bài thơ một đạo văn sách, dùng Tri huyện, Tri phủ làm sơ khảo và lấy Ký lục làm phúc khảo, người thi đỗ được gọi là Nhiêu học. Lại thi Hoa văn ( Hoa văn tự thế), người nào trúng tuyển được bổ làm việc ở ba ty: Xá sai, Tướng thần lại và Lệnh sử  
Đời chúa Thần Tông Nguyễn Phúc Lan, năm Bính Tuất (1646) cho tổ chức thi Hội mùa thu ( thu vi hội thi) 9 năm một kỳ, mở hai khoa thi Chính đồ và Hoa văn tại phủ chúa ở Phú Xuân. Đến năm Ất Mão (1675) lại đặt thêm khoa thi Thám phỏng. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục viết: “họ Nguyễn chuyên giữ một phương, chỉ mở thu thí (tức thi hương), chuyên dùng lại tư, không chuộng văn học, nên ít thu hái được người tuấn dị…Thế mà mạch văn đất này dằng dặc không dứt thật đáng khen”.
Do điều kiện chiến tranh, ở Quảng Bình việc học và thi cử gặp khó khăn nhưng cũng đã có người thi đỗ  các kỳ thi Hoa văn, Chánh đồ và cũng có những tác giả, tác phẩm nổi tiếng được nhắc đến trong sử sách. Đáng chú ý có hai tác phẩm:
- Tập truyện “ Hoa Văn Cảo Thị” của Nguyễn Hữu Dật viết trong những ngày ông bị tống giam là để giãi bày nỗi oan khuất của mình. Truyện  kể rằng có chàng Hoa Văn tài ba, tính tình khẳng khái một lòng trung nghĩa thờ vua nhưng vua không biết lòng mình. Bị giặc bắt, dụ dỗ mua chuộc nhưng vẫn một lòng trung quân, mắng vào mặt tướng giặc đón nhận cái chết tiết tháo. Vợ Hoa Văn là Cảo Thị không chịu để quân giặc làm nhục tuẫn tiết theo chồng. Người coi ngục đọc truyện cảm động đoán Hữu Dật  muốn mượn chuyện người xưa để bày tỏ lòng mình bèn ngầm dâng lên Chúa Nguyễn. Lời văn thống thiết của người viết như bày tỏ từ gan ruột một tấm lòng trung nghĩa, Chúa Nguyễn soát xét lại bản án, biết kẻ ganh tỵ, dèm pha nói xấu người trung thần bèn lệnh thả Nguyễn Hữu Dật phục hồi hàm chức cũ .
- Tập thơ Nôm “Song tinh bất dạ” của Nguyễn Hữu Hào, con trưởng của Nguyễn Hữu Dật. Năm Kỷ Sửu đời chúa Anh Tông, Nguyễn Hữu Hào thay Mai Vạn Long vào đánh Chân Lạp nhưng chỉ thu phục quân địch rồi rút về, chúa giận truất chức. Về quê, vui cảnh điền viên cùng con cháu trọn một năm. Khi chúa Anh Tông -Nguyễn Phúc Trăn mất, chúa Hiến Tông- Nguyễn Phúc Chu nối ngôi đã minh oan cho ông. Tháng 8 năm Tân Mùi (1692) ông được chúa Nguyễn Phúc Chu phục chức Cai cơ. Năm Giáp thân ( 1704) được thăng Chưởng cơ làm Trấn thủ dinh Quảng Bình, đóng ở Võ Xá. Trong thời gian làm Trấn thủ Quảng Bình, ông thực hiện chính sách vỗ yên trăm họ, yêu thương quân sĩ được mọi người ái mộ.
  Là một võ tướng giàu lòng bác ái, Nguyễn Hữu Hào còn có một tâm hồn văn nhân, đa cảm. Khi cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn trên đất Quảng Bình đã lùi xa, thời gian làm Chưởng dinh Quảng Bình ( 1704-1713), khi rỗi việc ông thường tìm đến thi ca:
Cửa xe đài án việc rồi
Màn trong giãn đế, sách ngoài dọn hiên
  Chính trong thời gian đó Nguyễn Hữu Hào đã viết Song Tinh Bất Dạ, một tác phẩm diễn Nôm  từ truyện Định tình nhân ( những người có tình gắn bó) của một tác giả Trung Quốc không rõ tên khoảng cuối đời Minh đầu đời Thanh. Song Tinh Bất Dạ được viết bằng thể  thơ lục bát, trong đó xen kẻ một số bài đường luật , thư và văn tế bằng thể biền ngẫu. Đánh giá về tác phẩm Song Tinh Bất Dạ nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng, về mô típ không có gì đặc sắc, mượn cốt truyện Định Tình Nhân, nhưng Nguyễn Hữu Hào bằng lời thơ mộc mạc, không chải chuốc đã phản ánh được khát vọng giải phóng tình cảm, giải phóng tình yêu trong sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Đó là mối tình vượt qua thành kiến hẹp hòi của cường quyền và bạo lực để vươn tới sự tự do trong tình yêu và kết thúc bằng thắng lợi của lòng chung thủy. Và qua đó tác phẩm cũng đã nêu lên khát vọng hòa bình chung của nhân dân ở Đàng Trong cũng như Đàng ngoài dưới thời Trịnh Nguyễn.
Cục diện Đàng Ngoài- Đàng Trong, Trịnh- Nguyễn phân tranh kéo dài hơn hai trăm năm, đất nước lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc và toàn diện. Vùng đât Bố Chính, Quảng Bình, nơi diễn ra nhiều cuộc chiến tranh kéo dài suốt nửa thế kỷ nhân dân phải chịu nhiều đau thương mất mát, nhưng công cuộc khai thiết Quảng Bình vẫn tiếp tục theo dòng chảy lịch sử. Đặc biệt, trong thời kỳ này với việc bảo vệ vững chắc vùng phên dậu phía Bắc, Quảng Bình đã có những đóng góp cho công cuộc mở cõi về phương Nam của các chúa Nguyễn.


[1]  Bài hịch tố cáo Uy Mục do Lương Đắc Băng soạn- Trích theo LSVN. Sdd. T1. Tr 286
[2] Phan Khoang: Việt sử xứ đàng trong. Nxb Văn học. 200. Tr 109
[3] Thuộc huyện Thuỵ Nguyên, phủ Thiệu Hoá, Thanh Hoá. Nay ở Vinh , Nghệ An
[4] Sự kiện ở Đại An nhiều sách cho rằng đây là kế của Nguyễn Hoàng xui Phạm Nghạn, Bùi Văn Khê, Ngô Đình Nga làm phản để lấy cớ đưa quân đi dẹp loạn mà về lại Thuận Hoá.
[5] Trích theo Phan Khoang. Việt sử xứ đàng trong. Tr 110
[6] S trên. Tr 115
[7] Thực ra chùa Kính Thiên đã có trước 1555, khi Dương Văn An viết sách Ô Châu cận lục đã nhắc đến ngôi chùa này:" Chùa  ở gần trạm Bình Giang, huyện Lệ Thuỷ, nước biếc uốn quanh, non sông chầu về. Hẳn nhiên là một ngôi chùa núi u tịch, như một cõi thần tiên vậy". Có lẽ Nguyễn Hoàng cho xây dựng lại trên nền chùa củ. Di tích của chùa Kính Thiên nay vẫn còn tại xã Mỹ Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình ( PVD)
1- Về dinh Quảng Bình, tất cả vùng đất phía nam sông Nhật Lệ trở vào trước đây đều thuộc dinh Quảng Bình tục gọi là dinh Mười, lị sở ở làng Võ Xá. Năm ất Dậu ( 1645), đặt thêm Thuỷ dinh Quảng Bình. Đến năm Mậu Tý ( 1648) Chúa Sãi sai Nguyễn Hửu Tiến đem quân đóng ở Võ Xá, gọi là Lưu Đồn. Từ đây dinh Lưu Đồn thay dinh Quảng Bình thống hạt vùng này, còn địa hạt dinh Quảng Bình lui vào phía nam có lị sở ở An Trạch( Mỹ Thuỷ- Lệ Thuỷ ngày nay)
[9] Nậu là đám đông người họp lại để làm ruộng. Man là cỏ mọc tràn ra, chỉ nơi nhiều nhà ở liền nhau.
[10] Xem Phan Khoang- VSXĐT- Sdd. Tr 306
[11] Theo Nguyễn Khao Chiêm: Nam triều công nghiệp diễn chí
[12] Theo VSXĐT.Sdd.Tr144
[13] Theo VSXĐT. Sdd.Tr138
[14] Theo Võ Khắc Văn: Nhớ Quảng Bình. nội san Quảng Bình quê tôi
[15] Di tích lịch sử Quảng Bình đăng trong Tập san trường Viễn đông bác cổ. Thư viên Quốc gia ký hiệu C36 (1903) (1-2)
[16] Thuộc huyện Kỳ Anh- Hà Tĩnh ngày nay, tức cửa Nhượng
[17] Khi mới mở mang lãnh thổ, những dinh ở địa đầu biên giới gọi là dinh Trấn Biên
[18] Theo Phan Khoang: LSXĐT.Sđd, Tr298
[19] Sách trên, tr 322
[20] Lê Quý Đôn. PBTL. Sdd, tr 144
[21] Sách trên, tr 145
[22] Sách trên, tr 379
[23] Sách trên, tr 380
[24] Lê Quý Đôn. PBTL. Sdd, tr 261
[25]Sách trên, tr 170
[26] Sách trên, tr100
[27] Theo Việt sử thông giám cương mục
[28] Trích theo Phan Khoang. Việt sử xứ đàng trong. Tr 110
[29] VSXĐT. Sđd Tr 115
[30] Thực ra chùa Kính Thiên đã có trước 1555, khi Dương Văn An viết sách Ô Châu cận lục đã nhắc đến ngôi chùa này:" Chùa  ở gần trạm Bình Giang, huyện Lệ Thuỷ, nước biếc uốn quanh, non sông chầu về. Hẳn nhiên là một ngôi chùa núi u tịch, như một cõi thần tiên vậy". Có lẽ Nguyễn Hoàng cho xây dựng lại trên nền chùa củ. Di tích của chùa Kính Thiên nay vẫn còn tại xã Mỹ Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh QuảTrong Bình ( PVD)
[31] TheoVSXĐT. Sđd. Tr126
[32] Phan Khoang: Sđd. Tr438
[33] Như trên
[34] Trând Đình Vĩnh: Cảnh Dương chí lược. UBNDxã Cảnh Dương- Sở VHTT Quảng Bình. 1993. Tr31-31
[35] ĐNNTC. Sđd. Tr73
Từ khóa: dưới thời, chúa

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm website của chúng tôi. Hãy cho chúng tôi biết bạn là :

Học sinh

Cựu học sinh

Thầy Cô giáo

Cựu giáo viên

Phụ huynh học sinh

Khách

Liên kết website




Danh Ngôn

Thời gian thay đổi tất cả, thay đổi tính tình chúng ta nữa.Boileau

Liên kết

Đảng Cộng Sản
Chính phủ
Bộ GD-ĐT
Sở GD-ĐT Quảng Bình
Thư viện giáo án
Hòm thư điện tử