Giới thiệu địa chỉ sửa chữa máy bơm nước, sửa chữa điện nước, sửa điện nước, sửa chữa điện nước tại nhà, thông tắc chậu rửa bát và cung cấp mua bán phụ tùng xe howo chính hãng chuyên nghiệp, uy tín, được nhiều bình chọn tin dùng tại Hà Nội

21:38 ICT Thứ sáu, 19/07/2019
Tập thể CB - GV - NV và Học sinh trường THCS và THPT Hóa Tiến thi đua Dạy tốt - Học tốt

Tin tức

Tổ chức

Tra cứu thông tin

Tài nguyên

Tiện ích

Facebook trường

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 9


Hôm nayHôm nay : 587

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8149

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1342363

Trang chủ » Tin Tức » Tin tức » 410 năm hình thành tỉnh Quảng Bình

thcsvathpthoatien.edu.vn

QUẢNG BÌNH THỜI NHÀ TRẦN

Thứ sáu - 03/01/2014 10:39
I. CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH BẠI QUÂN XÂM LƯỢC
 
  1. Cùng cả nước ba lần đánh thắng quân xâm lược Mông Cổ
Sau khi triều Lý suy vong, vương triều Trần được thiết lập (1226 - 1400). Trên nền tảng đã được xây dựng từ đời nhà Lý, triều Trần tiếp tục công việc kiến thiết đất nước, củng cố quốc gia thống nhất, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tiếp tục mở rộng biên cương về phía Nam.
Từ khi lên ngôi, Vua Trần Thái Tông đã củng cố chế độ trung ương tập quyền, khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố quân đội và thiết lập quan hệ bang giao với các nước láng giềng. Đối với Chiêm Thành Vua Trần Thái Tông đã có nhiều chính sách để giử hoà hiếu hai nước “lấy đức vỗ về, sai sứ sang dụ” nhằm ổn định biên cường để xây dựng đất nước.
Nhưng với Chiêm Thành, từ khi nhà Lý suy yếu thường đem thuyền nhẹ quấy rối, cướp phá cư dân ven biển. Khi Trần Thái Tông lên ngôi, mặc dầu trong quan hệ hai nước họ cố giử vẻ bên ngoài là thần phục, hàng năm cử sứ thần triều cống nhưng luôn “đòi xin lại đất cũ, có ý nhòm ngó nước ta(1) . Vùng đất Bố Chính, Lâm Bình và Minh Linh là biên ải của nước Đại Việt về phương Nam luôn ở trong tình trạng chiến tranh.
Trong khí đó, ở phía bắc, sự phát triển của đế quốc Mông Cổ đang đe doạ nghiêm trọng nền độc lập và sự sống còn của dân tộc ta.
Vào đầu thế kỷ XIII, những bộ lạc chăn nuôi du mục người Mông Cổ sống trên thảo nguyên Châu Á bắt đầu tập hợp lại thành một quốc gia. Đó là quá trình chiến tranh đổ máu giữa các bộ lạc và liên minh bộ lạc và người chiến thắng cuối cùng là Thành Cát Tư Hản (Tê mu Jin). Thành Cát Tư Hản đã xây dựng một nhà nước quân sự độc tài, lợi dụng ưu thế của tài cưỡi ngựa, bắn cung và tính ngoan cường của người Mông Cổ họ đã thành lập đội quân viễn chinh hùng mạnh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược hầu hết các nước Châu Âu và Châu Á. Trong nữa thế kỷ chinh phục, vua chúa Mông Cổ đã lôi kéo thế giới vào những cuộc chiến tranh tàn khốc và đã lập nên một để quốc hùng mạnh ở thế kỷ XIII.
Năm 1252, chúa Mông Cổ là Mông Kha (Mông Ke) sai em là Hốt Tất Liệt (Khu Bi Lai) và tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriang Khai Dai) đánh xuống nước Đại Lý (Vân Nam, Trung quốc). Lảnh thổ đế quốc Mông cổ đã áp sát biên giới nước ta và một cuộc chiến tranh xâm lược nước ta là không thể tránh khỏi. Đứng trước nguy cơ xâm lược của đế quốc Mông Cổ, lại bị quấy phá của quân Chiêm Thành, Trần Thái Tông quyết định đem quân đánh Chiêm Thành, giữ vững biên cương phía nam, ổn định tình hình đất nước chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông.
Tháng hai năm Nhâm Tý (1252) Vua Trần Thái Tông thân chinh đánh Chiêm thành. Sách Đại việt ký toàn thư chép:
“Nhâm tý, Nguyên Phong năm thứ 2/1252 (Tống Thuần Hựu năm thứ 13). Mùa xuân, tháng giêng, vua thân chinh đánh Chiêm thành, sai Khâm thiên Đại vương Nhật Hiệu làm lưu thủ. Chiêm thành từ khi nhà Lý suy yếu, thường đem thuyền nhẹ đến cướp bóc dân cư ven biển. Vua lên ngôi, lấy đức vỗ về, sai sứ sang dụ, tuy họ có ý thường sang cống, nhưng có ý đòi lại đất cũ và có ý nhòm ngó nước ta. Vua giận, nên có việc thân chinh này. Mùa đông, tháng 12, bắt được vợ của chúa Chiêm Thành là Bố Da La và nhiều thần thiếp, nhân dân của y rồi về”(1) .
Cuộc tiến đánh Chiêm thành của Trần Thái Tông năm 1252 là cuộc chinh phạt nhằm ngăm đe chứ không phải là cuộc chiến tranh xâm lược giành đất. Lúc này, triều Trần ý thức được rằng nguy cơ xâm lược chính là từ phương Bắc, vì vậy đánh Chiêm thành là để loại trừ hiểm hoạ phía nam, tập trung cho cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông sắp tới. Cuộc tiến đánh Chiêm Thành kéo dài 10 tháng và quân Trần đã sử dụng lực lượng quân sự khá hùng mạnh. Trong cuộc chiến đó nhân dân Bố Chính và Lâm Bình đã có những đóng góp to lớn về sức người và sức của cho đội quân Trần chinh phạt Chiêm ngăn chặn sự quấy rối biên giới phía nam.
Sau cuộc tiến binh năm 1252, biên cương phía nam ổn định, nhà Trần bắt tay vào chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chông quân Nguyên Mông. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông hai nước Đại Việt và Chiêm Thành cũng có kẻ thù chung vì vậy đã liên kết, giúp đỡ nhau để bảo vệ độc lập chủ quyền của mỗi nước.
Năm 1257, chúa Mông Cổ mở cuộc tiến công lớn nhằm tiêu diệt triều nam Tống. Đạo quân của Ngột Lương Hợp Thai ở Vân Nam được lệnh tiến xuống đánh chiếm nước Đại Việt rồi từ đó, mở một gọng kìm đánh lên phía nam trung Quốc để phối hợp với các đạo quân từ phía bắc đánh xuống. Âm mưu của kẻ thù là xừa xâm chiếm nước ta, vừa lợi dụng địa bàn nước ta tạo thành mũi tiến công bất ngờ đánh vào hậu phương phía nam của nhà Tống. Tháng giêng năm 1258, quân địch theo lưu vực sông Hồng tiến quân xuống xâm lược nước ta. Trước quân địch đang lúc tiến công ào ạt, vua Trần quyết định tạm thời rời khỏi thành Thăng Long để bảo toàn lực lượng. Khi quân địch vào Thăng Long chỉ thấy kinh thành trống không, không có lương thực, âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng bị phá sản. Sau một thời gian, nhận thấy thời cơ phản công đã tới, ngày 29 tháng 1 năm 1258, quân Trần mở một cuộc phản công quyết liệt vào Đông Bộ Đầu đánh đuổi quân địch ra khỏi biên giới. Lần đầu tiên quân Nguyên Mông thất bại nặng nề.
Sau thất bại trong lần xâm lược lần thứ nhất (1258) quân Mông cổ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai. Lần này chúng mượn cớ đánh Chiêm thành để xâm lược nước ta. Cuối năm 1282, đạo quân Nguyên Mông do Toa Đô (Xô Ghê Tu) chỉ huy vượt biển đánh chiếm Chiêm Thành rồi âm mưu đánh lên Đại Việt từ phía nam, phối hợp với đại quân phía bắc đánh xuống nhanh chóng thôn tín nước ta(2).Quân Nguyên Mông bắt nhà Trần phải cung cấp lương thực và cho chúng mượn đường đánh Chiêm thành. Nhà Trần không những khước từ yêu cầu đó mà còn đem quân và chiến thuyền giúp Chiêm thành chống kẻ thù chung(3).
Cuộc chiến đấu của quân và dân Chiêm Thành diễn ra rất quyết liệt. Nhân dân Chiêm Thành đã dựa vào “sông núi bền vững” để tổ chức cuộc kháng chiến. Nhiều lần nhà Nguyên cử sứ thần sang thu phục đều bị bắt. Đầu năm 1282 quân Nguyên đánh chiếm kinh thành Chà Bàn (Vijaya), nhân dân Chiêm Thành đã cho đốt hết kho tàng, lương thảo thực hiện tiêu thổ kháng chiến, bất hợp tác với giặc, rút vào rừng tiếp tục cuộc kháng chiến. Sau hơn 1 năm chiến đấu anh dũng bền bỉ nhân dân Chiêm Thành đã đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông. Quân Toa Đô phải rút quân ra phía bắc Chiêm Thành, đóng quân ở Việt Lý và Ô lý (Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay) chờ quân tiếp viện và phối hợp với đại quân của Thoát Hoan tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt.
Cuộc kháng chiến của nhân dân Chiêm Thành không những đã bảo vệ độc lập dân tộc mình mà còn giúp cho nước Đại Việt kìm chân giặc Nguyên Mông chuẩn bị chu đáo cho cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) thắng lợi. Trong cuộc kháng chiến đó, hai nước Đại Việt và Chiêm Thành đã kề vai sát cánh cùng chiến đấu chống kẻ thù chung. Đây là biểu hiện đẹp đẽ của quan hệ giữa hai nước, cơ sở cho việc thiết lập quan hệ hưu nghị thân thiện ở giai đoạn sau.
Tháng giêng năm 1285, quân Nguyên Mông lại tiến hành cuộc chiến tranh xâm llược nước ta lần thứ hai. Lần này chúng huy động một lực lượng lớn quân đội chia làm ba hướng tấn công vào Đại Việt. Đạo quân chủ lực do Thoát Hoan chỉ huy từ Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn. Đạo quân thủy từ Vân Nam tiến sang theo lưu vự sông Chảy. Ở phía nam, đạo quân do Toa Đô chỉ huy tiến đánh vùng Nghệ An, Thanh Hóa.  Quân dân nhà Trần một lần nữa lại đã tổ chức cuộc kháng chiến, anh dũng phản công mãnh liệt lần lượt đánh bại đội quân viễn chinh xâm lược ở Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết  đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi.
Sau hai lần thất bại trước nước Đại Việt nhỏ bé,  Hốt Tất Liệt quyết định bỏ kế hoạch xâm lược Nhật Bản để dồn lược lượng tấn công vào nước ta một lần nữa. Tháng 12 năm 1287, Quân Nguyên Mông  chia thành ba đạo quân: đạo quân chủ lực vẫn do Thoát Hoan chỉ huy tiến đánh Lạng Sơn; một đạo quân thủy từ Vân Nam theo sông Hồng tiến xuống; một đạo quân thủy từ cửa biển theo sông Bạch Đằng tiến vào. Quân dân nhà Trần lại tổ chức cuộc kháng chiến lần thứ ba và khi thời cơ đến đã phản công tiêu diệt đội quân xâm lược. Với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, quân tâ đã đánh bại ý chí xâm lược của Nguyên Mông, bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Ba lần đánh thắng tên đế quốc Mông Cổ hung hãn, dân tộc ta đã nêu cao tấm gương về sức mạnh và khả năng chiến thắng của một dân tộc kiên quyết chiến đấu để bảo vệ nền độc lập và chủ quyền  của đất nước.
  1. Bảo vệ vùng lãnh thổ phía nam của Đại Việt
Sau cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi quan hệ hai nước Đại Việt và Chiêm thành trở nên thân thiện, hữu hảo. Tháng 3 năm Tân sửu (1301) Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông sang thăm Chiêm thành. Trong chuyến viếng thăm này Thái thượng hoàng đã hứa gả Công chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm thành là Chế Mân. Đổi lại, Chế Mân dâng hai Châu Ô, Châu Lý của Chiêm Thành cho Đại Việt.
Tháng 2 năm ất Tỵ (1305) “ Chiêm thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý vật lạ làm lễ vật cầu hôn(1) . Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306) gả công chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm Thành Chế Mân(2) .
Việc gả Công chúa Huyền Trân cho Chế Mân tuy có gây bất bình cho quan lại trong hoàng tộc, nhưng việc làm của Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông và vua Trần Anh Tông là hoàn toàn sáng suốt). Quan hệ giữa Chiêm thành và Đại Việt gần 250 năm kể từ ngày vùng đất Bồ Chính, Địa lý, Ma linh được sát nhập vào Đại Việt là quan hệ thù địch, chiến tranh. Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông và Vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân là muốn thiết lập quan hệ bang giao hửu hảo hai nước, dập tắt ngọn lữa chiến tranh thù hận. Chỉ tiếc rằng quan hệ đó không giử được lâu bền.
Sau khi Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý nhà Trần đổi thành Thuận Châu  và Hoá Châu (vùng Quảng Trị, Thừa thiên- Huế và một số vùng phía bắc Quảng Nam ngày nay). Nhà Trần nhanh chóng thiết lập bộ máy hành chính, thực hiện chính sách miễn tô, thuế, cấp ruộng vườn để thu phục dân chúng.
Tháng 5 năm Đinh Mùi (1307) Chế Mân chết. Theo tục lệ Chiêm thành, vua chết thì hàng hậu phải lên giàn hảo thiêu để chết theo. Vua Trần Anh Tông sợ công chúa Huyền Trân bị hại sai người sang tìm cách cứu công chúa vượt biển trở về nước. Sau sự kiện đó, quan hệ hai nước Đại Việt và Chiêm Thành trở lại thù địch gay gắt. Con của Chế Mân là Chế Chí lên ngôi cất quân chiếm lại Châu Ô và châu Lý.
Tháng 12 năm Tân Hợi (1311) Vua Trần Anh Tông phải thân chính đem quân đánh Chiêm thành để bảo vệ biên cương lảnh thổ ở phía nam. Trong cuộc tiến binh này vùng đất Lâm Bình trở thành bàn đạp tiến công của quân đội nhà Trần, trong cuộc nam chinh. Về sự kiện này ĐVSKTT chép: “Đến khi vua đích thân đi đánh, đến phủ Lâm Bình, chia quân làm ba đường: Huệ Vũ vương Quốc Chẩn theo đường núi, Nhân Huệ vương Khánh Dư theo đường biển, Vua tự dẫn 6 vạn quân theo đường bộ; thuỷ bộ cùng tiến. Lấy Đoàn Như Hài làm thiên tử chiêu dụ sứ đi trước[1]
Trong cuộc tiến binh  lần này Vua Trần bắt được Chế Chí đem về Thăng Long, đưa em Chế Chí là Chế Đà A Bà Niêm lên thay. Cũng như các lần trước, việc đánh Chiêm Thành là để răn đe, bảo vệ biên cương lảnh thổ của Đại Việt, tuyệt nhiên không xâm lược chiếm đất. Sau khi thắng lợi, bảo vệ phần lãnh thổ Châu Thuận, Châu Hoá, Trần Anh Tông cho quân rút về nước.
Một năm sau, Quý Sửu (1313) nước Chiêm thành bị quân Xiêm (Thái Lan) tiến đánh vua Trần sai Đỗ Thiên Hư đi kinh lược Nghệ An, Lâm Bình đưa quân sang cứu giúp.
Sau khi đánh đuổi quân xâm lược Xiêm, quan hệ Chiêm Thành và Đại Việt từng bước được cải thiện, song vua Chiêm vẫn âm mưu đòi lại vùng Châu Thuận, Châu Hoá cũng như Bố Chính, Lâm Bình và Minh Linh trước đây. Họ thường cho quân quấy phá vùng biên ải và nhiều lần cất quân đánh chiếm lãnh thổ của Đại Việt. Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình, nhà Trần buộc phải đưa quân đánh Chiêm thành nhằm mục đích răn đe. Nhà Trần đặt chức Kinh lược sứ ở Lâm Bình để trông coi việc biên giới với Chiêm Thành
Trước nguy cơ xâm phạm biên giới, quấy phá các châu ở phía nam Đại Việt của quân Chiêm Thành, nhà Trần đã cho tăng cường củng cố lực lượng quân đội, xây dựng thành trì vững chắc.
Năm 1361 vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga tiến quân đánh Đại Việt, chiếm cảng Dã Lý (thuộc Lý Hoà, Hải Trạch, Bố Trạch ngày nay). Quân Chiêm thành tàn phá, giết hại nhiều người rồi mang theo nhiều của cải cướp được xuống thuyền về nước.
Năm sau (1362) Chiêm Thành lại đánh phá Hóa Châu, nhà Trần sai Đỗ Tư Bình lấy quân ở Lâm Bình và Thuận Hoá sửa sang thành Hoá Châu cho bền vững.
Tháng 3 năm Bính Ngọ (1366) quân Chiêm thành lại tiến hành cuộc chiến tranh đánh vào đất Lâm Bình (Quảng Bình) nơi Chế Củ đã dâng cho Đại Việt từ năm 1069. Nhân dân Lâm Bình dưới sự chỉ huy của Tri phủ Lâm Bình là Phạm A Song đã đánh tan quân xâm lược Chiêm, bảo vệ quê hương và lãnh thổ của đất nước. Phạm A Song được phong làm Đại tri phủ phủ Lâm Bình, hành quân thủ ngự sự.
Trước tình hình triều Trần ngày càng suy yếu, nội bộ mất đoàn kết, tranh chấp quyền lợi trong hoàng tộc, Chiêm thành đã phát động nhiều cuộc chiến tranh tiến đánh Đại Việt có lúc đánh cả vào kinh đô Thăng Long nhưng đều thất bại. Trong các cuộc chiến tranh giữa triều Trần với Chiêm Thành, vùng đất Bố Chính, Lâm Bình luôn là địa bàn chiến lược quan trọng cho những cuộc tiến công bảo vệ vùng đất phía nam của Đại Việt.
Tháng 12 năm 1376, vua Trần Duệ Tông thân chính dẫn 12 vạn quân xuất phát từ kinh đô tiến đánh Chiêm Thành. Vua sai Lê Quý Ly đốc thúc quân dân Nghệ An, Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hoá chở lương thực cung cấp cho quân đội. Quân đội Trần tiến đến cửa biển Di Luân (tức cửa Roòn ngày nay) Vua Trần lên bờ cưởi ngựa dẫn quân bộ  men theo bờ biển đến cửa Nhật Lệ đóng quân lại và luyện tập thêm một tháng[2]. Quân dân Bố Chính, Tân Bình đã đóng góp sức người, sức của cho cuộc tiến binh của vua Trần vào kinh đô của Chiêm Thành bảo vệ lãnh thổ của Đại Việt.
 
 
 
 
 
 
 
II. CÔNG CUỘC KHAI THIẾT DƯỚI THỜI TRẦN
 
  1. Sắp đặt bộ máy hành chính
Cùng với việc bảo vệ biên cương, đóng góp to lớn cho công cuộc mở cõi về phương Nam, công cuộc khai thiết vùng đất Bố Chính và Lâm Bình dưới thời nhà Trần đã có những bước tiến mới. Nhà Trần đặt thêm nhiều chức quan và cơ quan chuyên trách để đáp ứng yêu cầu phát triển của bộ máy hành chính. Các đơn vị hành chính được cải tổ lại cho phù hợp với việc quản lý của chính quyền Trung ương. Đầu đời Trần, châu Lâm Bình dưới thời Lý được đổi thành phủ Lâm  Bình. Đến đời Duệ Tông (1372 - 1377) đổi phủ Lâm Bình thành phủ Tân Bình sau đổi lộ Tân Bnh. Cuối đời Trần các đơn vị hành chính của Quảng Bình bao gồm:
Trấn Tân Bình có huyện Thượng Phúc, huyện Nha Nghi, huyện Tư Kiến.
    Châu Bố Chính có huyện Bố Chính, huyện Đặng Gia, huyện Tòng Chất[3]
Cùng với việc cải tổ bộ máy hành chính, nhà Trần coi trọng việc bổ nhiệm hệ thống quan lại ở địa phương. Năm 1361 vua Trần Dụ Tông bổ nhiệm Phạm A Song làm tri phủ phủ Lâm Bình. Bổ nhiệm quan lại các cấp phủ, châu, huyện trông coi việc hành, chính đồng thời phụ trách cả việc tư pháp, xét xử. Đơn vị hành chính cơ sở là xã được tăng cường thêm với chức Đại Tư xã (lấy quan từ ngủ phẩm trở lên) và Tiểu Tư xã (lấy quan từ lục phẩm trở xuống). Mỗi xã còn có chức xã chính, xã xử, xã giám. Việc hoàn chỉnh bộ máy hành chính ở Bố chính và Tân Bình chứng tỏ lúc này cư dân ở đây đã phát triển. Việc di dân lập ấp đã cho phép lập nên những đơn vị hành chính cơ sở làng xã và châu, huyện. Chính vì thế mà nhà Trần có thể huy động lực lượng dân binh ở đây phục vụ cho việc mở rộng biên cương về phía Nam.
Năm 1362 vua Trần sai Đỗ Tư Bình lấy thêm quân ở Lâm Bình và Thuận Hoá để đắp thành Hoá Châu. Năm 1375 lấy người ở Tân Bình cùng với người Nghệ An, Thanh Hoá sửa chữa đường xá từ Cửu Chân đến Hà Hoa (tức là từ Thanh Hoá đến Cẩm Xuyên, Kỳ Anh- Hà Tĩnh ngày nay). Người Tân Bình còn tham gia việc vận tải lương thực phục vụ cho việc đánh Chiêm của nhà Trần. Mặc dầu biên giới Đại Việt lúc này đã vào tận Thuận Hóa, nhưng Tân bình vẫn được xem là một trọng trấn. Quân đội ở Tân Bình đặt quân hiệu, có đại đội trưởng, đại đội phó làm tướng hiệu. Người Tân Bình không chỉ tham gia phục vụ các cuộc chiến tranh của nhà Trần mà còn trực tiếp tham gia quân đội, có người lập được chiến công được ban phẩm tước.
Trong các cuộc tiến binh đánh Chiêm Thành quấy rối phía Nam của nhà Trần và sau này là nhà Hồ, nhân dân Bố Chính, Lâm Bình đã có niều đóng góp cho cuộc chiến thắng lợi.
Dưới triều đại Nhà Trần, các đơn vị hành chính ở Quảng Bình đã được thiết lập về cơ bản. Mặc dù có nhiều cuộc chiến tranh giữa nhà Trần và Chiêm Thành diễn ra nơi đây, nhưng tình hình chính trị ổn định. Đó là điều kiện cho sự phát triển kinh tế nơi đây diễn ra mạnh mẽ và có quy mô hơn giai đoạn trước.
Để khắc phục nền kinh tế suy sụp cuối đời Lý, nhà Trần chủ trương trước hết là tập trung phát triển nông nghiệp. Công cuộc khẩn hoang được nhà Trần đặc biệt quan tâm. Nhiều công trình khẩn hoang của quan lại và chính quyền được mở ra. ở các lộ, các trấn, nhà Trần đặt chức đồn điền chánh sứ, phó sứ để đôn đốc khẩn hoang và quản lý các đồn điền. Tháng 10 năm 1266 vua Trần Thánh Tông “xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, lập thành điền trang”[4]. Với chủ trương đó, chế độ điền trang được thiết lập. Khác với thái ấp, điền trang thuộc quyền sử hữu của quý tộc và lực lượng sản xuất chủ yếu trong điền trang là nô tỳ bị bốc lột như những nông nô. Chế độ điền trang của nhà Trần đã tạo điều kiện cho các quan lại, quý tộc khai phá nhiều vùng đất mới. Bên cạnh ý nghĩa kinh tế, các điền trang của các quan lại, quý tộc còn là cơ sở để xây dựng lực lượng quân sự của các vương hầu. Chính các đội quân này đã góp phần cùng với lực lượng quân đội của triều đình ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông ở thế kỷ XIII.
Đối với vùng đất Quảng Bình bao gồm hai châu Bố Chính và Lâm Bình dưới thời nhà Lý đã trở thành lãnh thổ của nước Đại Việt, nhưng công cuộc khai phá chỉ mới bắt đầu, chưa có điều kiện mở rộng. Sang đời Trần cùng với nền kinh tế được phục hồi và phát triển, chính sách điền trang đã tạo điều kiện cho việc khai phá vùng đất Tân Bình với quy mô rộng lớn. Cùng với những dòng họ của các cư dân đã định cư dưới thời nhà Lý, các cuộc di dân dưới thời Trần  đã diễn ra ồ ạt hơn. Đặc biệt, vai trò của các quan lại, quý tộc nhà Trần khi vào định cư ở đây đã tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô khai phá, lập ấp, dựng làng, phát triển kinh tế vùng đất mới.
Ở làng Vĩnh Lộc, xã Quảng Lộc huyện Quảng Trạch (trước thuộc Bố Chính) có thờ một vị Thành hoàng là Trần Bang Cẩn một vị tướng đời Trần. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm Giáp Tý (1324) vua Trần Minh Tông “ Ban cho Trần Bang Cẩn bức tranh và bài thơ. Bấy giờ, Bang Cẩn làm Đại hành khiển thượng thư tả bộc xạ, là người tín thực giữ gìn, giản dị điềm tĩnh, không xa hoa.” Bài thơ Vua ban rằng:
  Hình dung cốt cách nại đông hàn
  tướng mạo đình đình diệc khả khan.
  Phong lưu nhất đoạn hồn miêu tận,
  Tâm lý nan miêu cảnh cảnh đan.
(Cốt cách dàng hình chịu rét đông,
  Hiên ngang tướng mạo thực nên trông.
  Phong lưu mọi vẻ đều nên cả,
  Vẽ sao canh cánh tấm lòng trung)[5]
Đời Trần Duệ Tông có Hồ Hồng (Hồ Cương) người Diễn Châu, Nghệ An chỉ huy quân đánh Chiêm ở Thuận Hoá. Đến đời Trần Thuận Tông, mùa xuân, tháng giêng năm Quý Dậu (1393), Hồ Quý Ly tìm dòng dõi họ Hồ dưa Hồ Cương làm người tâm phúc, coi quân Tả thánh Dực[6].Trong thời gian ở Bố Chính ông đã ở lại Lý Nhân Nam (Bố Trạch) chiêu dân lập ấp, khai khẩn vùng này. Gia phả họ Hồ ở Quỳnh đôi ghi: “cụ vào lấy vợ lẽ ở trong này và sinh ra một dòng họ ở trong đó”. Trong miếu thờ của ông tại Nhân Trạch có ghi rõ: “Tiền khai khẩn Lý Nhân Nam”
Trên đất Tân bình đã xuất hiện một số điền trang của các quý tộc, quan lại và cùng với các điền trang đó kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp đã có những bước phát triển mới. Điển hình trong số các điền trang đó có điền trang Tiểu Phúc Lộc thuộc huyện Nha Nghi, trấn Tân Bình của Hoàng Hối Khanh được xây dựng và phát triển ở vùng kinh tế quan trọng thuộc huyện Lệ Thuỷ ngày nay.
Hoàng Hối Khanh, người gốc Yên định - Thanh Hoá đỗ Thái học sinh vào năm 1384 dưới thời vua Trần Phế Đế. Sau đó ông được bổ nhiệm là Thư sử cung Bảo Hoà, là một người văn võ song toàn, được triều đình tin dùng, một năm sau ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Nha Nghi - trấn Tân bình (Lệ Thuỷ ngày nay). Khi vào đến Nha nghi, Hoàng Hối Khanh chọn vùng sông Kiến Giang đặt huyện sở. Nơi đây đất đai phì nhiêu, sông núi hài hoà, lại có thành Ninh viễn trước đây Chiêm thành đã xây dựng rất thuận lợi cho việc bố phòng.
Theo gia phả của các dòng họ ở địa phương để lại, khi ổn định công việc huyện sở xong, Hoàng Hối Khanh trở ra châu Hoan, châu ái (Thanh Hoá, Nghệ An) đưa 12 dòng họ vào định cư lập làng. Theo chế độ điền trang, Hoàng Hối Khanh còn chiêu mộ những người phiêu tán, không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng đất lập điền trang. Lúc đó, sau những cuộc chiến tranh xảy ra liên miên, người phiêu bạt nhiều, người vào điền trang của ông ngày càng đông. Điền trang Tiểu Phúc Lộc của Hoàng Hối Khanh bao gồm một vùng đất rộng lớn của các xã Lộc Thuỷ, Liên Thuỷ, Phong Thuỷ, Trường Thuỷ và thị trấn Kiến Giang ngày nay. Số nô tỳ ngày càng đông, quy mô điền trang Tiểu Phúc Lộc càng được mở rộng. Sau khi khai khẩn được hàng trăm mẫu ruộng, Hoàng Hối Khanh đã chia cho 12 dòng họ và một số nô tỳ. Một thời gian sau ông chủ trương giải phóng nô tỳ, cho họ trở thành những nông dân tự do. Việc chia ruộng đất cho các dòng họ và giải phóng nô tỳ biến họ thành những nông dân tự do đã thúc đẩy lực lượng sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp phát triển mạnh mẽ. Với điều kiện đất đai phì nhiêu, thuỷ lợi thuận lợi, vùng đất Kiến Giang trù phú dần dần trở thành vựa lúa của trấn Tân Bình.
Cùng với nông nghiệp các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển để phục vụ sản xuất và đời sống. Phan xá, Hoàng giang nghề rèn phát triển, chuyên sản xuất nông cụ như lưỡi cuốc, lưỡi cày, dao rựa, liềm hái và cả gươm giáo. Nhà Mòi (Xuân lai, Mai hạ) chuyên trồng dâu, nuôi tằm, trồng bông dệt vải, sản xuất tơ lụa. Nhà Ngo (Uẩn áo) chuyên sản xuất đồ gốm, gạch ngói, nung vôi, phục vụ cho việc xây dựng. Các làng nghề truyền thống này đã thúc đẩy cho sự phát triển thủ công nghiệp trong toàn huyện.Việc xây dựng điền trang Tiểu Phúc Lộc đã thúc đẩy phát triển kinh tế trong toàn trấn, nhưng quan trọng hơn, Hoàng Hối khanh đã dựa trên cơ sở đó để xây dựng một tiềm lực quân sự địa phương vững mạnh. Ông thực hiện chính sách khuyến nông, khuyến khích mọi người cùng làm cùng hưởng, tích trữ quân lương phòng khi có chiến tranh. Trong huyện và trong điền trang của mình ông chăm lo luyện tập quân lính, sẵn sang tham gia chiến đấu khi chiến sự xẩy ra. Dưới thời Trần vẫn áp dụng chế độ “ngụ binh ư nông” nên khi có chiến tranh, mọi người dân đều là lính. Quân đội, kể cả lực lượng của các trấn, lộ và vương hầu đều được xây dựng theo phương châm “binh lính cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều”. Chính vì vậy mà lực lượng quân đội của Hoàng Hối Khanh khi ông làm Tri huyện Nha Nghi đã đóng góp nhiều cho các cuộc chiến tranh, bảo vệ biên cương phía Nam cho Đại Việt.
Triều Hồ thiết lập,  Hoàng Hối Khanh từng giữ Hành khiển Tả ty Thị Lang kiêm lĩnh Thái thú Thăn Goa, Tiết chế Tân Ninh[7]. Khi quân Minh sang xâm lược nước ta ông bị bắt, dưa lên thuyền chở ra bắc. Đến cửa Đan Thai (của Hội ngày nay) ông nhảy xuống sôn tuẫn tiết không chịu hàng quân giặc. Tướng giặc Minh là Trương Phụ cho bêu đầu ông ở chợ Đông Đô.
Nhân dân vùng Kiến Giang thương tiếc lập đền thờ tại làng Thượng Phong (thuộc Tiểu Phúc Lộc khi xưa) và xây khu lăng mộ ông tại xã Trường Thủy để tưởng nhớ đến vị Tiền khai khẩn của vùng đất Lệ Thuỷ ngày nay(1).
Cùng với việc phát triển các ngành nghề kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các đường giao thông vận tải phát triển tạo điều kiện cho việc mở mang ngành thương mại trên đất Bố Chính và Tân Bình.
Khi triều Trần suy vong, triều Hồ được thiết lập đổi Tân Bình làm trấn Tây Bình. Nhận thấy vị trí quan trọng của Tân bình trong việc bố phòng và mở mang bờ cỏi về phía Nam nhà Hồ đã chú trọng mở mang đường sá từ Tây Đô (Thanh Hoá) qua Tây Bình đến Thuận Hoá, đặt tên là đường “thiên lý”. Tuyến đường thiên lý Bắc Nam qua vùng đất Bố chính, Tây Bình được hình thành tạo điều kiện cho việc giao thông vận tải thuận lợi. Dọc đường thiên lý nhà Hồ cho đặt nhiều phố xá để truyền thư và các cơ sở thương mại vì vậy dần dần hình thành. Bên cạnh hệ thống đường bộ, vận tải đường sông cũng được phát triển. Trên đất Bố Chính và Tây Bình có 5 con sông lớn có thể phát triển vận tải đường sông. Để đi vào phía trong, nhà Hồ đã cho đào kênh sen (Liên cảng) ở vùng Lệ thuỷ ngày nay để khai thông từ Tây Bình đến Thuận Hoá nhưng vì bùn cát đùn lên không khai được. Cùng với việc phát triển giao thông đường sông, nghề đóng thuyền được phát triển. Dưới thời đại nhà Trần và tiếp sau đó là thời Hồ quan hệ hàng hoá, tiền tệ bắt đầu phát triển. Đơn vị tiền tệ và một số đơn vị đo chiều dài, đo diện tích được Nhà nước quy định thống nhất. Một số thuế được thu bằng tiền như thuế nhân đinh, thuế bãi dâu, ruộng muối. Dưới thời Trần, ruộng đất cả nước trừ (Thăng Hoà) có 17.442 khoảnh (khoảnh = 100 mẫu), 34 mẫu; gạo thu được là 73.549 thạch, 4 thăng; dân số 162.558 hộ với 450.288 dân binh. Riêng phủ Tân Bình có hai huyện trực lệ là Nha Nghi và Phúc Khang, lĩnh thêm hai châu, một huyện là châu Chính Bình và châu Nam Linh, huyện Tả Bình có tất cả 37 xã, 2.132 hộ, 4.738 khẩu. Rộng đất dân là 27 khoảnh, 56 mẫu 7 sào, gạo lương mùa hạ, mùa thu là 133 thạch 9 hộc, tơ 9 cân 13 lạng 4 đồng cân, tiền thuế quan phòng là 1000 quan[8]
Dưới các triều đại phong kiến nhà Trần, công cuộc khai phá vùng đất Quảng Bình đã có nhiều bước tiến mới, đặc biệt ở vùng phía nam là trấn Tân Bình. Với chế độ điền trang, công cuộc khẩn hoang được tiến hành trên quy mô lớn, kinh tế nông nghiệp đã có bước phát triển. Cùng với nông nghiệp các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải đã dần dần hình thành và phát triển theo. Là vùng đất chịu nhiều cuộc chiến tranh, vì vậy công cuộc khai thiết còn gặp nhiều khó khăn. Sự nghiệp khai phá Quảng Bình vẫn được tiếp tục đẩy mạnh dước các triều đại phong kiến nối tiếp.
Sau khi Thượng hoàng Trần Nghệ Tông mất, Lê Quý Ly lập mưu đưa Trần Thuận Tông đi tu nhường ngôi cho con là Thái tử Án lên làm vua tức là Trần Thiếu Đế. Vua Trần Thiếu Đế mới 3 tuổi mọi công việc triều chính đều do phụ chính Lê Quý Ly điều hành. Năm 1400 Lê Quý Ly phế truất Trần Thiếu Đế, đổi họ Lê Quý Ly thành Hồ Quý Ly, thiết lập triều Hồ. Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, tự xưng là Thượng hoàng, cùng coi chính sự. Từ khi lên nắm chính quyền Hồ Quý Ly đã thực hiện một số cải cách nhằm cứu vãn nguy cơ sụp đổ cuả nhà nước phong kiến và củng cố địa vị thống trị của dòng họ mới. Nhưng họ Hồ đã tự làm mất uy tín và ảnh hưởng đối với nhân dân, để lòng người ly tán, tước bỏ mất khả năng và sức mạnh chống ngoại xâm, dẫn đến nguy cơ mất nước.  Nước ta một lần nữa lại bị xâm lược bởi triều đại phong kiến nhà Minh ở phương Bắc.


(1) ). ĐVSKTT Sđd, trang 24
(1) ĐVSKTT toàn tập. Sđd, trang 24
(2) Xem ĐVSKTT Sđd tập 2, trang 55
(3) Xem LSVN Tập I, Sđd, trang 199. Riêng với sự kiệnnày sách ĐVSKTT chép có khác: “Nguyên soái Toa đô đem 50 vạn quân từ Vân nam qua nước Lào thắng đến Chiêm thành...”
Nhưng các sử củ của Trung quốc đều chép Toa đô xuất phát từ Quảng Châu theo đường biển tiến đống Chiêmthành vào tháng II Nhâm Ngọ (1282).
(1) Xem ĐVSKTT Tập 2, Sđd, trang 89
(2) Xem  ĐVSKTT  Tập 2, Sđd, trang 890
[1] Sách trên, tr98
[2] ĐVSKTT.T2 tr160
[3] Đào Duy Anh: Đất nước VN qua các đời. Sdd tr98
[4] ĐVSKTT. Sđd. T2. Tr36
[5] ĐVSKTT. Sđd. T2. Tr110
[6] ĐVSKTT. Sđd. T2. Tr185
[7] ĐVSKTT. Sđd. T2. Tr213.
(1)  Xem lý lịch di tích danh tướng Hoàng Hối Khanh, lưu trữ tại BQL Di tích danh thắng Quảng Bình.
[8] Xem PBTL.Sđ d, tr 27

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm website của chúng tôi. Hãy cho chúng tôi biết bạn là :

Học sinh

Cựu học sinh

Thầy Cô giáo

Cựu giáo viên

Phụ huynh học sinh

Khách

Liên kết website




Danh Ngôn

Chỉ có thời gian, chứ không phải lý luận, là có thể chữa được những vết thương lòng do ái tình gây ra.P. Syrus

Liên kết

Đảng Cộng Sản
Chính phủ
Bộ GD-ĐT
Sở GD-ĐT Quảng Bình
Thư viện giáo án
Hòm thư điện tử