Giới thiệu địa chỉ sửa chữa máy bơm nước, sửa chữa điện nước, sửa điện nước, sửa chữa điện nước tại nhà, thông tắc chậu rửa bát và cung cấp mua bán phụ tùng xe howo chính hãng chuyên nghiệp, uy tín, được nhiều bình chọn tin dùng tại Hà Nội

22:16 ICT Thứ sáu, 19/07/2019
Tập thể CB - GV - NV và Học sinh trường THCS và THPT Hóa Tiến thi đua Dạy tốt - Học tốt

Tin tức

Tổ chức

Tra cứu thông tin

Tài nguyên

Tiện ích

Facebook trường

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 12


Hôm nayHôm nay : 639

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8201

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1342415

Trang chủ » Tin Tức » Tin tức » 410 năm hình thành tỉnh Quảng Bình

thcsvathpthoatien.edu.vn

QUẢNG BÌNH THỜI NHÀ NGUYỄN

Thứ sáu - 03/01/2014 10:46
I
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH MINH MẠNG
TỈNH QUẢNG BÌNH THÀNH LẬP
 
  1. Thời Gia Long lập doanh Quảng Bình.
Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh đặt niên hiệu là Gia Long và tháng 6 năm Bính Dần (1806) lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, kinh thành Huế, vương triều Nguyễn chính thức được thành lập. Dưới triều Nguyễn công cuộc khai thiết Quảng Bình đã có bước tiến mới. Đơn vị hành chính cấp tỉnh được thiết lập và cùng với thiết chế là tổ chức bộ máy quản lý được hình thành có tổ chức chặt chẻ hơn. Các đơn vị hành chính cấp trực thuộc tỉnh được củng cố với hệ thống từ phủ, huyện, tổng đến cơ sở là các làng xã, thôn, ấp, trang phường…Tình hình kinh tế- xã hội đã có bước phát triển so với các thời kỳ trước đó.
Trong gần 20 năm trị vì (1802-1819), Gia Long thực hiện nhiều chính sách nhằm củng cố sự thống trị của vương triều mới, thiết lập bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên bộ máy tổ chức hành chính còn lõng lẻo và rời rạc.
  Dưới thời Gia Long, bộ máy hành chính địa phương gần như giữ nguyên theo cách tổ chức cũ của các chúa Nguyễn ở miền Nam và của triều Lê - Trịnh ở miền Bắc. Toàn bộ đất nước được chia làm 23 doanh, trấn. Trong đó, miền Trung và miền Nam chia thành các doanh, là đơn vị hành chính có từ thời các chúa Nguyễn. Ở miền Bắc vẫn giữ nguyên các đơn vị hành chính dưới triều Lê - Trịnh là trấn. Đứng đầu mỗi doanh là Lưu thủ, có các chức Cai bạ, Ký lục giúp việc. Đứng đầu mỗi trấn là Trấn thủ có các chức Hiệp trấn, Tham hiệp giúp việc.
  Mỗi trấn, doanh gồm nhiều phủ, mỗi phủ chia thành từ 4 đến 7 huyện, mỗi huyện chia thành 8 đến 14, 15 xã. Mỗi phủ có Tri phủ, mỗi huyện có Tri huyện, tại mỗi xã có Xã trưởng giữ việc cai trị.
  Trong 27 doanh, trấn cả nước, Gia Long phân chia địa hạt quản lý như sau : Triều đình Trung ương trực tiếp nắm đất Kinh kỳ gồm 4 dinh (doanh) : Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam và 7 trấn là Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Khương.
Ngoài ra Gia Long còn thiết lập hai thành : Bắc Thành và Gia Định Thành. Bắc thành lại chia làm 5 nội trấn là Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương và 6 ngoại trấn là : Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, An Quảng, Hưng Hóa. Gia Định Thành bao gồm 5 trấn là : Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên.
  Dưới thời Gia Long, Quảng Bình là một doanh thuộc đất Kinh kỳ chịu sự quản lý trực tiếp của triều đình trung ương
  Cách tổ chức bộ máy hành chính dưới thời Gia Long bộc lộ tính phân quyền trong quản lý, lỏng lẻo trong thiết chế, đơn giản trong tổ chức đòi hỏi phải có cải cách hành chính để thiết lập một bộ máy hành chính có tổ chức chặt chẻ hơn.
2.Tỉnh Quảng Bình thành lập và những cải cách hành chính dưới thời vua Minh Mạng
Minh Mạng lên ngôi (1820-1840) đã có những chính sách nằm củng cố nền thống nhất đất nước, tập trung quyền lực cho triều đình trung ương. Một trong những chính sách quan trọng hàng đầu là Minh Mạng chủ trương cải cách hành chính quốc gia từ trung ương đến các địa phương. Ở trung ương, Minh Mệnh cải tổ, xây dựng các cơ quan của nhà nước theo hình thức mới như Văn thư phòng chuyển thành Nội Các, xây dựng Viện Cơ Mật, hoàn thiện bộ máy Lục Bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công), Lục Tự ( Đại Lý, Thái Thường, Quang Lộc, Thượng Bảo, Thái Bảo, Hồng Lô) và các cơ quan giúp việc quản lý, điều hành trên toàn quốc.
Đối với địa phương, Minh Mạng tiến hành cải cách bộ máy hành chính nhằm thực hiện một chế độ trung ương tập quyền triệt để, không phân cấp quản lý cho các thành như dưới thời Gia Long.
Năm 1822, Minh Mạng cho đổi dinh Quảng Đức thành phủ Thừa Thiên giao cho một viên Kinh thành Đề đốc trong coi. (Trước đây dinh Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình thuộc đất Kinh kỳ).
Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), các dinh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam được gọi là trấn. Từ đây trở đi, toàn quốc không còn đơn vị hành chính là “ dinh” (doanh) hay “ đạo” nữa. Trừ Thừa Thiên phủ, cả nước lúc đó có 26 trấn. Bắc Thành gồm 11 trấn; miền Trung 10 trấn và Thừa Thiên phủ đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của triều đình. Gia Định thành gồm 5 trấn. Trong thời kỳ đầu của triều Minh Mệnh vẫn còn Bắc Thành và Gia Định thành vì không thể một lúc xóa bỏ ngay một lúc.
Tháng 10  năm 1831, Minh Mệnh xóa bắc Thành và Gia Định Thành, chia từ Quảng Trị ra thành 18 tỉnh và một năm sau, tiến hành chia đặt 12 tỉnh ở phía Nam.
Như vậy là tháng 10 năm Minh Mệnh thứ mười hai (1831), tỉnh Quảng Bình với tư cách là một đơn vị hành chính trực thuộc chính quyền trung ương được chính thức thành lập.
  Trong số 30 tỉnh trong cả nước, để định số tiền công chu cấp hàng năm, triều đình định ra 11 tỉnh lớn, 11 tỉnh vừa và 8 tỉnh nhỏ. Quảng Bình là một trong những tỉnh vừa.
  Về nguyên tắc làm việc của cơ quan hành chính ở cấp tỉnh được Minh Mệnh quy định: Thường là 2 tỉnh (chỉ có một trường hợp 3 tỉnh, một trường hợp 1 tỉnh) đặt dưới quyền của một Tổng Đốc. Theo chế độ của chính quyền trung ương tập quyền, Tổng Đốc vừa là quan cao nhất tại địa phương, lại vừa có tư cách như một thành viên của chính quyền trung ương được đặc phái về cai trị tại địa phương. Tổng đốc trông coi hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị (liên tỉnh Bình - Trị), trong quan hàm được ghi là: “ Binh bộ Thượng thư kiêm Đô sát viện Hữu Đô ngự sử, Tổng đốc Quảng Bình, Quảng Trị đẳng xứ địa phương, Đô đốc quân vụ, kiêm lý lương thướng lãnh Quảng Bình Tuần phủ sự”[1]. Viên quan Tổng đốc có trách nhiệm chuyên hạt (chuyên chủ công việc trong hạt mình) một tỉnh và kiêm hạt (kiêm lý công việc một hạt ngoài hạt mình) một tỉnh khác. Tổng đốc Bình Trị chuyên hạt Quảng Bình và kiêm hạt Quảng Trị
Trong cả nước, trừ Thanh Hóa là đất “ thang mộc” của nhà Nguyễn được đặt riêng một viên Tổng Đốc còn chia ra 14  liên tỉnh dưới đây:
1.  Bình - Trị : Quảng Bình - Quảng Trị
2. An - Tĩnh : Nghệ An - Hà Tĩnh
3. Hà - Ninh : Hà Nội - Ninh Bình
4. Định - Yên: Nam Định - Hưng Yên
5. Hải - An:  Hải Dương - Quảng Yên
6. Ninh Thái: Bắc Ninh - Thái Nguyên
7. Lạng - Bình: Lạng Sơn - Cao bằng
8. Sơn - Hưng - Tuyên:  Sơn Tây- Hưng Hóa - Tuyên Quang
9. Bình - Phú: Bình Định - Phú Yên
10. An - Biên:  Phiên An - Biên Hòa ( năm 1833 tỉnh Phiên An đổi thành Gia Định thì liên tỉnh được gọi là Định - Biên)
11. Long - Tường: Vĩnh Long - Định Tường
12.  An - Hà: An Giang - Hà Tiên
13. Nam - Ngãi: Quảng nam - Quảng Ngãi
14. Thuận - Khánh: Bình Thuân - Khánh Hòa
Tổng đốc ở tỉnh nào kiêm luôn Tuần Phủ tỉnh đó. Liên tỉnh Bình- Trị, Tổng Đốc đóng tại Quảng Bình như vậy Quảng Bình không có Tuần Phủ mà chỉ Quảng Trị có Tuần Phủ mà thôi. Quan hàm của Tuần Phủ, như Tuần Phủ Quảng Trị được ghi là “ Bộ binh Tham tri hoặc Thị Lang kiêm Đô sát viện Hữu phó Đô Ngự sử, Tuần Phủ Quảng Trị đẳng xứ địa phương, Đô đốc quân vụ kiêm lý lương thướng, lãnh Bố chánh sứ”[2].
Tại mỗi tỉnh đặt dưới quyền của Tuần Phủ có hai ty:
-Ty Bố Chánh sứ (hay Phiên ty) phụ trách việc thuế, đinh điền và hộ tịch do một viên Bố Chánh sứ (gọi tắt là Bố Chánh) điều khiển, có một Thông Phán, 1 Kinh Lịch giúp việc.
- Ty Án Sát sứ (hay Niết ty) coi việc hình án, do một viên Án Sát sứ ( thường gọi là quan Án Sát) phụ trách, có một Thông Phán, Kinh Lịch phụ tá.
Từ sau cuộc cải cách hành chính dưới thời Minh Mệnh, các quan chức đứng đầu mỗi tỉnh gồm có: Tổng Đốc (hoặc Tuần Phủ), Đề Đốc, Bố Chánh, Án Sát và Lãnh Binh. Chức trách của các quan về cơ bản là:
Quan Tổng Đốc giữ việc cai trị quân và dân, trong coi cả quan văn lẫn quan võ, khảo hạch các quan lại.
Quan Tuần Phủ giữ việc tuyên bố ân đức của nhà vua, phủ dụ yên dân, trông coi việc hành chính, giáo dục, chấn hưng việc có lợi và trừ bỏ hủ tục.
 Quan Bố Chánh sứ coi việc thuế má, tiền của; triều đình có ban ân huệ, hoặc lệnh cấm thì tuyên đạt cho các chức việc và dân chúng biết.
Quan Án Sát sứ giữ việc hình phạt trong tỉnh, phát dương kỷ cương, phong tục, xem xét việc quan lại trị dân và kiêm việc bưu chính truyền đi trong hạt.
Quan Lãnh Binh chuyên cai quản việc binh lính theo lệnh quan Tổng Đốc.
Bộ máy quan lại của tỉnh Quảng Bình năm 1831 như sau:
  • Quan Tổng Đốc ( Bình - Trị): Thống chế Đào Văn Trường
  • Quan Bố Chánh Quảng Bình: Hiệp trấn Nguyễn Công Thiện
  • Quan Án Sát Quảng Bình: Tham hiệp Võ Thân
  • Quan Lãnh Binh Quảng Bình: Vệ úy Võ Văn Thuyên
 ( Ở Quảng Bình không có Tuần Phủ vì đã có Tổng Đốc kiêm)[3]
Tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), triều đình ra chỉ dụ phân bố các tỉnh thuộc các khu vực trong toàn quốc gồm: Kinh Sư, Tả trực, Hữu Trực, Tả Kỳ, Hữu Kỳ, Nam Kỳ, Bắc Kỳ. Quảng Bình cùng với Quảng Trị là tỉnh Hữu Trực ( nằm phía hữu Kinh Sư- Phủ Thừa Thiên)
Những cải cách hành chính của Minh Mệnh năm 1831-1832 có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố quyền lực tập trung của chính quyền trung ương, củng cố sự thốn nhất trong lãnh thổ quốc gia. Việc phân chia các tỉnh trong cả nước không có gì xáo trộn về mặt địa lý, với sự hợp lý về mặt địa lý - nhân văn, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của địa phương, có tính đến sự kế thừa quá khứ vừa dựa trên sự ổn định lâu dài trong lịch sử. Tỉnh Quảng Bình được thành lập đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong quá trình khai thiết của một vùng đất đầy biến động, đặc biệt là sau thời kỳ phân chia, cát cứ dưới thời Trịnh - Nguyễn.
Bộ máy hành chính cấp tỉnh được tổ chức chặt chẻ, đảm nhận chức năng quản lý hành chính, hành pháp, kinh tế, quân sự đã có một bước tiến so với dưới các triều đại trước đây. Hình thức tổ chức đó được duy trì suốt chế độ phong kiến nhà Nguyễn và sau đó cả trong thời gian khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta.
Cùng với việc thành lập bộ máy hành chính cấp tỉnh, Minh Mệnh cũng đã có những cải cách hệ thống hành chính cấp dưới là phủ, huyện và làng, xã. Thời Gia Long dưới doanh, trấn có nhiều phủ, mỗi phủ có nhiều huyện, mỗi huyện có nhiều xã. Gia Long đặt chức Tri phủ, Tri huyện; mỗi phủ, huyện đều có đều có hai viên (gọi là Đông Đường và Tây Đường), giúp việc quản lý mỗi phủ huyện tùy công việc và quy mô mà số người ít, nhiều không nhất định. Minh Mệnh đã công bố nhiều khuyến định nhằm quy chuẩn hóa hàng ngũ quan lại phủ, huyện.
 Năm 1823, Minh Mệnh xuống chỉ quy định mỗi phủ, huyện chỉ đặt một viên quan đứng đầu, chỉ nơi nào nhiều việc thì bên cạnh Tri phủ có thêm Đồng Tri phủ và Tri huyện có thêm Huyện thừa.
Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), trên cơ sở số “đinh” và “điền”, triều đình ban bố nghị chuẩn cho đặt 1 viên Tri phủ ở những phủ số đinh chưa đến 2 vạn suất, số ruộng chưa đến 4 vạn mẫu; 1 viên Tri huyện ở những huyện số đinh chưa đến 5 nghìn suất, số ruộng chưa đến 2 vạn mẫu.
Triều đình Minh Mạng còn định ra các loại phủ huyện trong cả nước, Theo Nghị chuẩn được ban bố vào năm 1827 thì phủ, huyện được chia thành 4 loại:
Tối yếu khuyết ( rất nhiều việc)
Yếu khuyết ( nhiều việc)
Trung khuyết ( việc vừa)
Giản khuyết ( ít việc)
Các đơn vị hành chính cấp phủ huyện đầu đời Nhà Nguyễn có những thay đổi như sau:
Tỉnh Quảng Bình có 2 phủ Quảng Ninh và Quảng trạch với 6 huyện. Đổi phủ Quảng Bình (được thành lập từ thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng 1603) thành phủ Quảng Ninh (lúc này đã thành lập tỉnh Quảng Bình).
Phủ Quảng Ninh có địa giới phía nam giáp huyện Minh Linh tỉnh Quảng Trị , phía bắc giáp huyện Bố Trạch thuộc phủ QuảngTrạch.  Phủ Quảng Ninh xưa là châu Địa Lý nước Chiêm Thành; đổi làm châu Lâm Bình; đời Trần đổi làm phủ Lâm Bình, đời Lê đổi thành phủ Tiên Bình; đời chúa Nguyễn đổi thành phủ Quảng Bình. Đến năm 1831, đổi thành phủ Quảng Ninh.
 Phủ Quảng Ninh có 3 huyện, với13 tổng, 161 xã thôn ấp.
Ba huyện của phủ Quảng Ninh từ phía nam ra là:
  - Huyện Lệ Thủy: đời Lý thuộc châu Lâm Bình, đời Trần là huyện Nha Nghi, đời Lê là huyện Lệ Thủy cho đến đời Nguyễn. Huyện Lệ Thủy lúc này có 5 tổng, 55 xã ,thôn, phường, ấp, giáp. Đến đời Thành Thái thứ 13 (1901) có cắt 8 thôn chuyển cho huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị[4].
- Huyện Phong Đăng (sau đổi tên là huyện Phong Phú) nằm giữa huyện Lệ Thủy và Phong Lộc; có 4 tổng 48 xã, thôn, phường, ấp, giáp. Năm Tự Đức thứ 4 (1851) bỏ tri huyện, công việc của huyện do phủ Quảng Ninh kiêm nhiệm.
- Huyện Phong Lộc phía bắc giáp huyện Bố Trạch, phía nam giáp Phong Đăng và Lệ Thủy. Đời Lyý thuộc châu Lâm Bình, cuối đời Trần là huyện Phúc Khang; đời Lê đổi là Kiến Lộc sau đổi Khang Lộc; đến Gia Long năm thứ 18 (1820) đổi Phúc Lộc. Lúc này có 4 tổng 58 xã, thôn, phường, ấp.
Phủ Quảng Trạch: phía bắc giáp địa giới huyện Kỳ Anh, phía nam giáp huyện Phong Lộc phủ Quảng Ninh. Xưa là châu Bố Chính[5], đời thuộc Minh là châu Chính Bình, đời Lê đổi lại Bố Chính, lệ vào phủ Tân Bình, thời Trịnh - Nguyễn là châu Bắc Bố Chính (thuộc Trịnh), Nam Bố Chính (thuộc Nguyễn) Đời Tây Sơn hợp hai châu thành châu Thuận Chính, đời Gia Long là Bố Chính Nội và Bố Chính Ngoại lệ vào phủ Quảng Bình. Lúc này phủ Quảng Trạch có 3 huyện gồm 11 tổng 184 xã, thôn, phường, ấp, giáp.
Ba huyện của phủ Quảng Trạch là:
- Huyện Bình Chính: bắc giáp Đèo Ngang, nam giáp huyện Bố Trạch có 3 tổng, 50 xã, thôn, phường, ấp, giáp.
- Huyện Minh Chính ở phía tây phủ Quảng Trạch (Vùng Tuyên, Minh Hóa Hiện nay) có 3 tổng 76 xã thôn ấp phường giáp. Năm tự Đức thứ 4, bỏ tri huyện, công việc ở huyện do phủ kiêm nhiệm.
- Huyện Bố Trạch: có 5 tổng, 59 xã thôn phường ấp giáp.
Đối với Quảng Bình, tổ chức phủ, huyện được thiết lập từ thời Minh Mạng về cơ bản đã hoàn thành.
Đến năm Tự Đức thứ 27 (1874) đặt thên huyện Tuyên Hóa thuộc phủ Quảng Trạch. Như vậy, Phủ Quảng Trạch có các huyện: Tuyên Hóa, Bình Chính, Minh Chính, Bố Trạch. Trong đó hai huyện Bình Chính và Minh Chính do Tri phủ Quảng Trạch kiêm nhiếp
Phủ Quảng Ninh có các huyện Phong Lộc, Phong Phú (Phong Đăng) và huyện Lệ Thủy. Huyện Phong Lộc và Phong Phú đều do Tri phủ Quảng Ninh kiêm nhiếp.
Cuối thời nhà Nguyễn các huyện Phong Lộc, Phong Phú đều nhập vào phủ Quảng Ninh. Huyện Bình Chính và Minh Chính nhập vào phủ Quảng Trạch. Tỉnh Quảng Bình  có 2 phủ Quảng Trạch và Quảng Ninh, 3 huyện là Tuyên Hóa, Bố Trạch và Lệ Thủy
Tỉnh thành Quảng Bình thời nhà Nguyễn đóng ở hai xã Động Hải ( Đồng Hới) và Phú Ninh thuộc huyện Phong Lộc.
Trị sở của các phủ, huyện ở Quảng Bình ở những địa phương sau:
- Phủ Quảng Trạch có trị sở ở Phan Long hay Ba Đồn.
- Huyện Tuyên Hóa có trị sở ở Đạm Thủy hay Chợ Gát sau dời xuống Minh Cầm.
- Trị sở huyện Bố Trạch thời Gia Long dựng ở phường Phúc Tự; năm Minh Mệnh thứ 3 dời đến Mỹ Lộc sau này là Hoàn Lão (chợ Đón).
- Trị sở phủ Quảng Ninh thời Gia Long ở xã Yên Cư, năm Minh Mệnh thứ 7 mới đặt làm lỵ sở của phủ ở Trung Trinh sau đó dời về Quán Hàu.
- Trị sở huyện Lệ Thủy ở xã Cỗ Liễu (chợ Tréo)
Mỗi phủ, huyện chia thành 5 đến 7 tổng, mỗi tổng có 3, 4 đến 20, 21 làng xã, thôn, trang, ấp, giáp hay phường. Một số nơi có dân tộc ít người được gọi là “ sách”. Cả tỉnh có 29 tổng, 376 làng (bao gồm cả thôn, trang, ấp, giáp, phường).
Số làng (xã, thôn, trang, ấp, phường) của các tổng, huyện, phủ ở Quảng Bình đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 có:
Huyện Tuyên Hóa có 5 tổng:
- Tổng Thượng Lưu có các  xã: Cao Trạch (Kẻ Má)[6], Thạch Sơn ( Con Lẻ), Thiết Sơn (Làng Ống); các thôn: Đạm Thủy ( Chợ Gát), Minh Cầm Trung, Minh Cầm Ngoại (Cồn Dâu), Minh Cầm Nội thôn ( Cồn Trưa), Phúc Lâm thôn ( Trìm); các phường: Sảo Phong, Kinh Trừng, Phú Sơn, Thượng Lâm, Đồng Tam ( Làng Mét), Phúc Sơn ( Trìm Thượng).
- Tổng Thượng Nguyên có xã Kim Lũ; các phường: Xuân Canh, Tam Đa, Đông Ca phường, , Lệ Tửu (Chưn Cuông), Đồng Giang (Còi Giang), Đồng Lê, Đồng Cao (Chợ Lào), , Ba Tâm, Khe Trừng, Đại Hòa, Kiều Mộc, Thuận Hoan, Đồng Văn (Còi Lôi), Tân Ninh, Hà Sơn (Hà Giung); các ấp: Phú Ninh, Khe Nét; và trang Thượng Phong.
- Tổng Cơ Sa có xã Lâm Sum (Râm Râm); các phường: Quy Hợp, Tân Hợp, Tân Xuân, Tân An (La Ôn), Lương Năng; các thôn: Quy Đạt (Kẻ Sạt), Tân Kiều (Làng Cầu), THanh Long (Làng Rồng), Tân Sum (Mọ Cua), An Đức, Ba Nương, Đa Năng ( Làng Ải).
         - Tổng Kim Linh có các thôn: Cổ Liêm (Làng Trẹm), Kim Bảng (Làng Xét), An Thọ (Làng Bộc), Tân Lý (Làng Lý), Lạc Thiên; các sách: Cát Đặng (Rục), Lương Năng, Gia Ốc và phường Ca Nheo
- Tổng Thanh Lạng có các xã: Thanh Lạng, Thanh THạch (Đá Nâm), Bãi Đức; thôn Thanh Thiền ( Cọng Ve) và phường Kim Trinh (Xóm Thành).
Phủ Quảng Trạch có 5 tổng:
- Tổng Lư Phong có các xã: Hướng Phương, Lộc Điền (Chợ Thành), Hậu Lộc, Văn Lôi, Phù Lưu, Đông Dương, Trung Thuần, Pháp Kệ, Văn Tân, Lư Phong (Lư Đăng); các thôn: Tô Xá, Phú Ninh, Tân Phong (Kinh Kịa) và phường Cồn Sẽ (Cồn Giữa).
- Tổng Thuận Hòa có các xã: Di Luân, Tòng Chất, Kiêm Long (Kẻ Càng), Quảng Châu; các thôn: Phúc Kiều ( Kẻ Rốn), Phú Lộc, Tùng Lý, Năm Lãnh, Bắc Hà, Liêu Sơn, Thủy Vực (Làng Vặc), Hùng Sơn; trang Thọ Sơn và giáp Hòa Bình.
- Tổng Thuận Thi có các xã: Phù Trạch, Lâm Xuân, La Hà, Văn Phú (Kẻ Đáy), Biểu Lệ ( Kẻ Biểu); các thôn: Vĩnh Lộc, Hòa Ninh (Làng Đoàn), Giáp Tam, Tiên Lệ Hạ (Hạ Thôn), Tiên Lệ Trung (Trung Thôn), Tiên Lệ Thượng ( Thượng Thôn), Minh Lệ, Thọ Linh, Diên Trường, Vĩnh Phúc (Làng Ngan); các phường: Tam Trang, Nội Hà (Ba Cồn), Cao Lao.
- Tổng Thuận Lệ có các xã: Thanh Thủy, Lệ Sơn Thượng, Kinh Nhuận, Thiên Lễ Thượng, Hòa Lạc, Cảnh Dương (Kẻ Xã), Vĩnh Sơn, Di Lộc; các phường:  Ngư Vọng, Cao Mai (Mai), Ngọa Cương (Lò Độôc); các trang: Uyên Phong, Kinh Châu, Lạc Sơn, Lạc Giao (Hạ Trang).
Tổng Thuận Bài có các xã: Mỹ Hòa, Thổ Ngọa, Tác Loàn (Sầu Đậu), Đơn Sa, Thuận Bài, Thọ Sơn, Xuân Mai, Tiên Lang, Thanh Sơn, Cổ Cảng, Phù Kinh, Lâm Lang, Cương Gián (Kẻ Lái), Tiên Lương, Kim Thành; các thôn: Tượng Sơn, Lương Trình, Chánh Trực (Kẻ Gián), Phan Long (Ba Đồn), Nghĩa Nương (Kẻ Đại) Xuân Kiều, Giêng Phúc, Nhơn Thọ, Hà Công, Lệ Trung (Kẻ Chuông); các phường: Ngoại Hải (Kẻ Câu), Trúc Lâm, Vong Phi ( Xuân Hồi)
Huyện Bố Trạch có 4 tổng:
Tổng Cao Lao có các xã: Cao Lao Hạ (Kẻ Hạ), Cao Lao Thượng (Kẻ Thượng), Cao Lao Trung (Kẻ Trung), Hà Môn, Cù Lạc, Bồ Khê (Kẻ Bồ), Cổ Giang (Làng Cồn), Phù Kinh (Kênh Tra), Thạch Ba, Đăng Đế (Kẻ Đồng); các phường: Bồng Lai (Làng Bùng), Phong Nha, Tân Châu, Phù Hữu, Bồ Khê (Làng Mối); các trang: Thanh Long, Gia Tịnh (Kẻ Giao), Xuân Sơn (Kẻ Sô), Hà Môn Thượng (Khố) và ấp Tân Thuận.
Tổng Liên Phương có các xã: Lâm Trạch, Đông Thành (Ba Đông), Huỳnh Trung, Hoành Kinh (Kẻ Nghen), Liên Phương ( Sao Sa); Các trang Liên Phương Thượng (Kẻ Sen), Liên Phương Hạ (Kẻ Ngạn), Liên Phương Trung (Kẻ Bàng), Cu Hợp (Đá Mài)) và phường Tư Lộc.
Tổng Hoàn Lão có xã Phúc Lộc; các thôn: Phúc Tự (Làng Chùa), Mỹ Lộc (Kẻ Gỗ), Lý Nhơn (Kẻ Náu), Hoàn Lão; các phường: Chánh Hòa (Dinh), Đại Lộc (Phường Bún); các trang: Nam Phúc (Nam Liêu), Hòa Duyệt (Kẻ Rấy), Võ Thuận (Kẻ La).
Tổng Hàn Phúc có các xã: Khương Hà, Vạn Lộc (Kẻ Hạc); các thôn: Hoàn Phúc (Kẻ Hạc), Phúc Lễ, Hỷ Duyệt (Kẻ Đòi), Cự Nẫm ( Kẻ Nẫm); các trang: Thuận Phu, Đồng Cao,Thụ Lộc ( Mục Tượng) và phường Phủ Định ( Phường Mới)
Tổng Hà Bạc có các thôn: Thanh Hà, Lý Hòa (Kẻ Lái), Quy Đức, Lý Nhơn nam ((Bến Nam), Lý Nhơn Bắc.
  Phủ Quảng Ninh có 7 tổng:
  - Tổng Thạch Bàn có các xã: Thạch Bàn (Kẻ Thẹc), Lai xá (Nhà Lai), Mỹ Đức, Hoàng Viễn,Ninh Lộc, Thương xá, Lộc Xá, Tân Lê (Kẻ Trìa), Xuân Hòa, Ngô Xá (Nhà Ngo), Phúc Vinh, Hoàng Đàm, Trung Tín, MInh Hương; các phường: Trung Đinh, Hướng Hương, thôn Phú Hội và ấp Ngân Sơn.
  - Tổng Hoành Phố có các xã: Hoành Phố, Tân Lộc, Đại Phúc, Phúc Lương, Kim nại, Cao Xuân, Thu Thứ, Phúc Nhi, Đại Hữu (Làng Bún), Nguyệt Áng, Gia Ốc, Vinh Lộc, Thế Lộc, các phường: Phù Trình, Mỹ Lệ.
  - Tổng Võ Xá có các xã: Võ Xá, Hàm Hòa, Diên Trường, Tả Phan, Hữu Niên, Lệ Mỹ (Tam Tòa), Chánh Cung, Minh Dương; các phường: Tung Dinh, Thạch Lũy, Kiên Bính, Trúc Ly, Hướng Dương, Phú Nhuận, Phù Mỹ; các thôn: Động Hải (Đồng Hới), Cừ ( Làng Cừa), Phú Hội, Hà và ấp Tráng Liệp (Dinh Mười).
  - Tổng Trung Quán có các xã: Cổ Biền, Phúc Long (Ke Rồng), Hiển Lộc, Quảng Xá, Vạn Xuân, Xuân Dục, Hiển Vinh (Kẻ Tùng) Mỹ Xá (Khe Thá), Hữu Lộc; ấp Phúc Tín.
  - Tổng Long Đại có các xã: Long Đại, Lương Yến, Phúc Duệ, Trung Nghĩa, Trường Dục (Kẻ Tràng), Lộc Long (Kẻ Rây), Vĩnh Tuy, Văn La (Quán Hàu), Trung Trinh, Lệ Kỳ, Hữu Phan, Trần Xá (Nhà Tràn); các phường: Diêm Điền, Bình Phúc, Xuân Thị; các ấp: Hữu Hùng, Trường Môn (Cửa Trường), Hữu Tiệp (Ba Dãy), Hữu Hậu (Niêu Một); và thôn Đồng Tộc (Cửa Soi).
  - Tổng Thuận Lý có các xã:  Thuận Lý, Phù Ninh, Phú Quý, Đức Phổ và các phường Mỹ Cương, Thuận Đức.
  - Tổng Quảng Thạch có các thôn: Thạch Xá Hạ, Thạch Xá Bắc, Thạch Xá Tây, Mỹ Trung (Mỹ Hương); ấp Tạ Thắng (Quán Dâu) và phường Bối Sơn (Kẻ Bói).
  Huyện Lệ Thủy có 7 tổng:
- Tổng Thủy Liên có các xã Đặng Lộc, Phò Chánh (Cung)
 Liêm Luật; các thôn Thủy Liên (Quán Sen), Thủy Liên Nam (Quán Trảy), Trung Luật (Cây Cúp), Hòa Luật nam (Ngoại Hải), Hòa Luật Đông (Hòa Đông), Hòa Luật Bắc (HÒa Bắc), Thủy Luật Tây, Thủy Liên Đông (Quán Cát), Thủy Liên Hạ (Quán Bụt) và ấp Phò Thiết.
  - Tổng Mỹ Trạch có các xã Cổ Liễu (Tréo), Mỹ Thổ (Làng Ngói), Quy Hậu, Mỹ Trach Thượng, Tâm Duyệt, Lâm Thiện (Làng Liêm), Dương Xá (Làng Liêm), Mỹ Trạch Hạ, Uẩn Áo (Nhà Ngo), Dương Xuân (Ba Canh); các phường Thuận Trạch (Trạm), Tân Mỹ (Mỹ Lệ), Tân Hậu, Tiểu Giang (Phường Tiểu); các ấp Mỹ Sơn (Thượng Lâm), Tân Hậu
  - Tổng Đại Phong Lộc có các xã Đại Phong Lộc (Đợi), Tuy Lộc (Tuy), An Xá (Thá); các thôn Mỹ Phước (Nhà Cồn), An Xá Hạ và phường An Lạc.
  - Tổng Thach Xá có các xã Ba Nguyệt, Phù Việt, An Đình; các thôn Thạch Xá, Mỹ Duyệt (Kẻ Đa), Mỹ Duyệt Hạ (Cưởi) và ấp Bình Phú.
  -  Tổng Thượng Phong Lộc có các xã Xuân Hồi (Hồi), Thượng Phong Lộc (Làng Tiểu), Phú Thọ (Nhà Ngò).
  - Tổng Xuân Lai có các xã Xuân Lai, Hoàng GIang (Nhà Vàng), Quảng Cư (Làng Chềng), Mai Xá Thượng, Mai Xá Hạ (Làng Mòi), Xuân Bồ, Phan Xá (Nhà Phan), Lê Xá (Nhà Cai), Thạch Bàn Thượng (Chự Thẹc), Châu Xá (Kẻ Châu) và phường Phú Bình Thượng.
  - Tổng Mỹ Lộc có các xã Mỹ Lộc (Mỹ Lược), Văn Xá, Lương Thiện, Lộc An (Lộc Hậu), Quy Trinh, Phú Hòa, Phú Gia, Phú Kỳ.
 
II
TÌNH HÌNH KINH TẾ -XÃ HỘI THỜI NHÀ NGUYỄN
Dưới triều Nguyễn công cuộc khai thiết vùng đất Quảng Bình sau chiến tranh đã có những bước tiến mới.
1.Các công trình xây dựng
Tuy đã hết chiến tranh nhưng triều đình vẫn lo việc phòng bị, củng cố các hệ thống phòng ngự, đặc biệt hệ thống Lũy Thầy được nhà Nguyễn cho xây dựng lại, kiên cố vũng chắc hơn. Lũy Động Hải (còn gọi là lũy Nhật Lệ từ chân núi Đầu Mâu đến cửa Nhật Lệ) đầu niên hiệu Gia Long cho đắp lại bằng đất vững chắc hơn, năm  Minh Mạng thứ 5 (1824) lại cho tu bổ và có nhiều đoạn dược  xây bằng đá; năm Thiệu Trị thứ hai (1842) được sửa sang và đổi tên là Định Bắc trường thành.
Một số công trình được xây dựng mới,  đáng chú ý như sau:
Thành Quảng Bình: Năm Gia Long thứ 10 (1811) đã cho xây dựng thành Quảng Bình lấy nơi làm việc của bộ máy hành chính cấp tỉnh. Thành Quảng Bình được đắp bằng đất có chu vi 469 trượng linh, cao 1 trượng, dày 3 trượng,1 thước, mở 3 cửa, hào rộng 4 trượng, ở địa phận 2 xã thôn Động Hải và Phú Ninh huyện Phong Lộc. Năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) được xây lại bằng gạch và đá khá kiên cố.
Cửa Quảng Bình (Quảng Bình quan) nằm ở phía đông Định Bắc trường thành được xây bằng đá năm Minh Mệnh thứ sáu (1825), cửa quan dài 2 trượng 1 thước, ngang 2 trượng 5 thước, thành ngoài bảo vệ có cửa quan dài 14 trượng 6 thước, cao 3 thước. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836) khi đúc Cửu đỉnh , hình tượng Quảng Bình quan được khắc vào Nghị đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), vua xã giá Bắc tuần có bài thơ ngự chế khắc bia dựng nhà bia ở ngoài cửa quan.
Cửa Võ Thắng quan ( còn gọi là lý Chính đại môn): ở phía tây Định Bắc trường thành. Năm Minh Mạng thứ 8 (1827) được xây bằng đá .
Cửa Hoàng Sơn quan: ở đèo Ngang phía bắc huyện Bình Chính ( Quảng Trạch) được xây đắp từ năm Minh Mạng thứ 14 (1833), cửa được xây bằng đá, dài 11 trượng 8 thước, cao 5 thước; khoảng giữa là cửa quan, phía tả và hữu đắp tường dài 75 trượng, cao 4 thước, phía sau thành được đắp  phụ thêm dài 12 trượng 2 thước. Năm Thiệu Trị thứ 2 vua xa giá có làm thơ khắc trên núi ( Bài thơ sau này được khắc lên bia đá nhưng tiếc rằng đã mất)
Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống giao thông, Gia Long cũng đã quan tâm tới việc tu sửa  lại đường xá, định lệ sai quan các doanh, các trấn sửa sang đường quan lộ. Bắt dân ở các địa phương đắp đường, làm cầu, cứ 15.000 trượng thì cấp phát cho 10.000 phương gạo và cứ 4.000 trượng phải làm một nhà trạm ở cạnh đường quan lộ để cho khách đi lại nghỉ ngơi. Ở Quảng Bình có 5 trạm:
Trạm Quảng Lộc: ở xã Đặng Lộc huyện Lệ Thủy phía nam là trạm Thừa Lập phủ Thừa Thiên cách 24 dặm, phía bắc là trạm Quảng Xá cách 24 dặm.
Trạm Quảng Xá: ở xã Thạch Xá huyện Lệ Thủy, phía bắc đến trạm Quảng Ninh 35 dặm.
Trạm Quảng Ninh ở xã Phú Ninh, huyện Phong Lộc, phía bắn đến trạm Quảng Cao cách hơn 32 dặm.
Trạm Quảng Cao: ở xã Đông Cao huyện Bố Trạch, phía bắc đến trạm Quảng Khê cách 33 dặm.
Trạm Quảng Yên: ở xã Minh Lộc huyện Minh Chính, phía bắc đến trạm An Thuần tỉnh Nghệ An cách 32 dặm.
Ngoài chức năng là một trạm dừng chân của khách bộ hành, có trạm còn là căn cứ quân sự (trạm binh) có lính trạm canh giữ như trạm Quảng Lộc ở Lệ Thủy có đến 100 lính và mỗi trạm được cấp 3 con ngựa.
Hệ thống cầu cống khắp toàn tỉnh được sửa chữa và được xây mới. Theo ĐNNTC toàn tỉnh có 24 cầu, 14 cống hình bán nguyệt, 3 cống 3 cửa 4 cống hai cửa, 4 cống nằng và 87 cống đơn. Đặc biệt vào năm Gia Long thứ 10 (1811) đã xây dựng Cầu Dài, dài 44 trượng và Cầu Ngắn, dài 7 trượng ở Động Hải ( nay là Cầu dài và Cầu Ngắn ở thành phố Đồng Hới). Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) tu sửa lại. Cầu Lý Hòa ở huyện Bố Chính (Bố Trạch) dài 62 trượng, năm Minh Mạng thứ 14 (1833) có tu sửa lại. Các nơi chưa bắt cầu được đều có bến đò như bến đò Yên Thạch ở Lệ Thủy, Hà Cừ ở Phong Lộc (nay là Bảo Ninh, Đồng Hới), Linh Giang ( sông Gianh), Di Luân (Roòn)…
Ngoài giao thông đường bộ, Gia Long còn cho nạo vét sông ngòi thuận tiện cho việc giao thông đường thủy và tổ chức các địa phương đắp đê phát triển kinh tế nông nghiệp.
2. Phát triển kinh tế
Để quản lý dân chúng ở các địa phương, Gia Long cho lập sổ đinh. Định lệ cứ 5 năm một lần bổ sung sổ đinh. Từ quan chức đến quân dân từ 18 tuổi đến 59 tuổi đều phải khai vào sổ. Năm Gia Long thứ 18 (1819) số đinh ở Quảng Bình là 13.500 người, đến gần cuối đời Tự Đức (1882) thì số đinh tăng lên 16.889 người [7]. Qua số đinh (từ 15 đến 59 tuổi) cho thấy dân số Quảng Bình thời đó không nhiều và từ thời Gia Long đến thời Tự Đức số đinh chỉ tăng lên hơn 3 nghìn người, qua đó cho thấy dân số Quảng Bình cũng không tăng được bao nhiêu.
Sau khi đánh được Tây Sơn, Gia Long lên ngôi  thực hiện chính sách cắt giảm binh bị. Đối với những người lính tuổi đã già thì cho về quê quán. Tùy theo tính chất của từng vùng mà định tỷ lệ tuyển quân như ở Biên Hòa trở vào thì cứ 5 người đinh tuyển 1 lính; từ Hà Tĩnh trở ra đến 5 nội trấn của Bắc Thành thì 7 người đinh lấy 1 lính, ngoại trấn thì cứ 10 người đinh lấy 1 lính. Riêng vùng từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận cứ 3 người đinh thì lấy một lính.[8] Điều đó cho thấy vùng đất Quảng Bình, nơi chịu nhiều cuộc chiến tranh thời Trinh- Nguyễn nay triều đình vẫn coi là vùng đất quan trọng trong việc xây dựng quân đội và như vậy có hạn chế đến nguồn nhân lực cho việc phát triển kinh tế. Lực lượng quân đội ở Quảng Bình có quân bộ binh của triều đình gọi là kinh binh gồm 5 vệ, mỗi vệ 10 đội, mỗi đội 50 người, có suất đội và đội trưởng cai quản đóng giữ ở các đồn ải. Ngoài ra có cơ binh là đội quân của riêng tỉnh, cũng chia làm cơ đội và đội tượng binh có 15 con voi.
Ở các cửa biển (tấn) đều có các vệ thủy binh coi giữ như tấn Nhật Lệ, tấn Linh Giang, tấn An Náu, tấn Lý Hòa, tấn Hùng Sơn, tấn Tuần Quảng. Sau này khi tình hình yên ổn một số tấn bãi bỏ lực lượng thủy binh chỉ cử một số người trong coi, bỏ chức tấn thủ, quản thủ chỉ có quan thủ ngự như Tuần Quảng, An Náu, lý Hòa, Hùng Sơn.
Lực lượng quân đội của nhà Nguyễn được bố trí chốt giữ các vị trí đầu nguồn (biên phòng) như nguồn Cẩm Lý (trước gọi là Thổ Lý) ở huyện Phong Lộc có thuyền (đơn vị) Bình Sơn; nguồn An Náu phía tây Bố Trạchcó sở Tuần thú; Nguồn Kim Linh ở phường Cao Mại, Bố Trạch có đặt sở Tuần thú, đồn trú. Sau này một số đồn trú và sở Tuần thú miền núi được bãi bỏ.
Thời Gia Long đã tổ chức việc quản lý ruộng đất khá chặt chẻ. Các loại ruộng như ruộng chiêm, ruộng mùa, ruộng một vụ, hai vụ, các loại đất có diện tích bao nhiêu, ở nơi nào các làng phải ghi chép đầy đủ vào 3 quyển sổ, cứ 5 năm đóng dấu kiểm tra một lần, một bản lưu tại bộ Hộ, một bản giao về tỉnh để lưu chiểu, một bản giao cho xã lưu thủ. Gia Long còn ra chỉ dụ cấm bán ruộng công điền công thổ, chỉ khi nào xã thôn có việc công thì mới được phép cho điển cố (cầm cố) nhưng hết hạn 3 năm phải trả lại, ai giữ quá hạn thì phải trị tội. Triều đình quy định theo từng địa phương mà định việc thu thuế. Ở Quảng Bình mỗi năm thu một vụ thuế khởi đầu từ tháng 4 đến tháng 7. Hàng năm tùy theo tình hình sản xuất như bị mất mùa do thiên tai (đại hạn hay lũ lụt), sâu bệnh (hoàng trùng) mà có xét việc giảm thuế. Nếu mất 4/10 thì giảm 2/10 phần thuế, mất 3/10 giảm 4/10thuế… thiệt hại hết thì giảm cả.
Thuế điền (ruộng đất) chia làm ba hạng: hạng nhất đẳng điền mỗi mẫu nộp 20 thăng, nhị đẳng điền nộp 15 thăng, tam đẳng điền nộp 10 thăng; ruộng mùa thì nhất loạt nộp 10 thăng.
Các địa phương không có ruộng mà có sản vật thì phải đóng thuế sản vật. Như ở nguồn Sa Cơ và Kim Linh thuộc phường Cao Mại huyện Minh Chính mỗi năm phải đóng sáp ong 229 cân 13 lạng, mật ong 30 chĩnh, vải hoa 1 tấm, ngà voi 4 chiếc…
Ngoài thuế điền,  thuế sản vật người dân còn phải đóng thuế đinh gồm ba loại: thuế thân 1,2 quan tiền, thuế mân tiền 1 tiền, thuế cước mễ 2 bát (gạo).
Đến thời Tự Đức, diện tích canh tác ở Quảng Bình theo sổ điền bạ có 48.159 mẫu, số thuế phải nộp là 26.494 hộc thóc, 29.61 quan tiền, 110 lạng bạc[9].
Cùng với nông nghiệp, ngành nghề cũng có bước phát triển như nghề đánh cá, nghề làm muối và các nghề thủ công khác. Các ngành nghề này  vốn là các ngành nghề truyền thống ở các địa phương, đã có dưới các thời nhà Trần, Lê, chúa Nguyễn nay có điều kiện phát triển mạnh hơn.
Nghề cá tiếp tục phát triển ở các xã vùng biển hầu khắp ở các huyện trừ Tuyên Hóa nhất là các xã như  Di Luân (Quảng Trạch), Thanh Hà (Bố Trạch), Động Hải (Phong Lộc), Hòa Luật (Lệ Thủy)…Các loại hải sản đánh bắt được ở vùng biển Quảng Bình, nhiều nhất là cá thu, cá nhám, cá chim, cá mực, cá trích. Đặc biệt có cá long trích làm nước mắm ngon hơn cả gọi là nước mắm hàm hương. Lúc này nghề biển Quảng Bình còn khai thác một số đặc sản được sách ĐNNTC nói đến là sò cửu khổng (cửu khổng quyết minh- sò 9 lỗ), hàu ở Vũng Từ (Vũng Chùa, Quảng Trạch), tôm hùm ở Ròn (Quảng Trạch), Động Hải ( Đồng Hới)…Đặc biệt, ở vùng Di Luân nhân dân địa phương nuôi nhiều sò huyết. Loại sò này trước đây không có, Trấn thủ Nguyễn Khắc Loát sai đưa thuyền ra Quảng Yên giáp Khâm Châu ( Trung Quốc) bắt về rồi đen thả ở cửa biển Di Luân. Nghề nuôi sò huyết có từ đó.
Nghề làm muối đã có bước phát triển mới. Thời các chúa Nguyễn sách Phủ biên tạp lục nói đến phương thức làm muối là người ta phải nấu nước mặn trong các chảo lớn giờ đây người ta đã biết làm ruộng muối với việc phơi nước mặn dưới nắng nóng, cho nước bóc hơi lấy muối. Các ruộng muối tập trung nhiều ở huyện Bình Chính (Quảng Trạch) và Phong Lộc (vùng Đồng Hới ngày nay).
Nghề dệt lụa, dệt vải vẫn phát triển nhiều nơi, đặc biệt xã Võ Xá có nghề dệt lụa nổi tiếng. Một số sản vật nổi tiếng của Quảng Bình được cung tiến vua yhời bầy giờ có bột hoàng tinh của Lệ Thủy, rượu dâu của huyện Minh Chính, tương đậu nành của huyện Phong Lộc, Bình sâm (sâm nam) của huyện Minh Chính, dưa hấu của phường Hữu Cung (Lộc Ninh, Đồng Hới ngày nay)…
Dưới thời nhà Nguyễn việc buôn bán đã phát triển mạnh hơn nhiều so với các thời kỳ trước đó. Sách ĐNNTC nói đến các chợ nổi tiếng đã hình thành lúc bấy giờ đến nay vẫn là những trung tâm mua bán của các huyện như:
Huyện Bình Chính (Quảng Trạch) có các chợ Thổ Ngõa, Lộc Điền, Lỗ Cảng, Di Lộc; đặc biệt có chợ Phan Long ( Ba Đồn) “10 ngày một phiên, buôn bán sầm uất, phần nhiều bán vải lụa, trâu bò”.
  Huyện Bố Trạch có các chợ: Lý Hòa, Thanh Hà, An Lão (Hoàn lão) “ hàng quán đông đúc”; chợ Bồ Khê; chợ Xuân Kiều “ mười ngày một phiên, hết ngày chư tan, bán nhiều vải lụa, khoai sọ, tôm cá, hàng quán đông đúc”
  Huyện Phong Lộc, Phong Đăng có các chợ:  Đại Phúc có từ thời Lê Mạc “ thuyền ghe tụ tập, là một nơi đô hội”; chợ Phú Xá “ họp buổi sáng bán nhiều lưới, hàng quán đông đúc”; chợ Chính Yên ( Dinh Ngói) “ họp buổi chiều, hàng quán đông đúc”; Chợ Dinh Mười, (nơi trước đây có trấn thủ lãnh 10 cơ binh đóng ở đây nên có tên Dinh Mười) “họp sáng chiều hai lần”; quán Phúc Tự.
  Huyện Lệ Thủy có các chợ Phù Lộc, Hòa Luật, Thạch Xá Hạ;  các quán Thủy Liên trung, Thủy Liên hạ, Phù Lộc
  Huyện Minh Chính có quán Nam Khê, quán Lũ Đăng
3. Văn hóa xã hội
  Thời các chúa Nguyễn, có thể do điều kiện chiến tranh liên miên, việc học có phần hạn chế. Sách Phủ Biên tạp lục của Lê quý Đôn viết : “ Họ Nguyễn trước kia chuyên giữ một phương, chỉ mở thi hương, chuyên dùng lai tư, không chuộng văn học, ít thu lượm được người tuấn dị”.
  Khi Gia Long lên ngôi, “ lúc bấy giờ nhờ có võ công mới dựng nên cơ nghiệp, cho nên các quan lúc ấy đều là quan ngũ quân đô thống, và quan tổng trấn Nam Bắc hai thành đều là quan võ cả[10]. Gia long cho rằng việc trị nước phải có võ, có văn nên đã chú ý đến việc học hành, thi cử trong cả nước. Gia Long cho lập Văn Miếu ở các doanh các trấn, đặt Quốc Tử Giám ở kinh đô Phú Xuân, mở khoa thi Hương để kén chọn người ra làm quan.          Thời Gia Long chỉ tổ chức thi Hương, đến năm Minh Mạng thứ 3,  Nhâm Ngọ (1822) cho tổ chức thi Hội, thi Đình để lấy Tiến sĩ, đến năm Minh Mạng thứ 10 (1829) lại lấy thêm Phó bảng. Trước đây cứ 6 năm mới có một khoa thi, nay cứ 3 năm mở một khoa thi vào các năm tí, ngọ, mão, dậu thi hương; năm thìn, tuất, sửu, mùi thi Hội, thi Đình. Luật lệ thi cử vẫn theo như thời Gia Long gồm 4 kỳ: kỳ thứ nhất thi Kinh nghĩa, kỳ thứ hai thi Tứ lục, kỳ thứ ba Thi phú; kỳ thứ tư thi Văn sách. Trước đây ai đỗ tam trường gọi là Sinh đồ, ai đỗ tứ trường gọi là Hương cống, nay đổi Sinh đồ là Tú tài, sinh cống gọi là Cử nhân. Vua Minh Mạng biết việc học và thi cử ở nước ta là chỉ học theo lối cử nghiệp, nghĩa là cốt học để đi thicâu nệ, hủ sáo, khoe khoang lẫn nhau, biệt lập mỗi nhà mỗi lối… học như thế thì trách nào nhân tài mỗi ngày một kém đi” ông muốn cải cách nhưng vì “ thói quên lâu ngày khó bỏ” nên việc học, thi cử vẫn giữ nguyên như cũ.[11]
  Dưới thời nhà Nguyễn ở triều đình có bộ Lễ coi việc giáo hóa cả nước, mỗi trấn (sau này là tỉnh) đều có quan Đốc Học, mỗi phủ có quan Giáo Thụ (Giáo thọ), ở huyện và châu có quan Huấn Đạo, vì vậy việc học ở các địa phương phát triển. Quảng Bình cũng đã phát triển  nhiều trường học kể cả công lập lẫn tư thục. Theo sách ĐNNTC các trường học công của tỉnh, huyện ở Quảng Bình được phân bố như sau:
  Trường học tỉnh Quảng Bình: trước thời Tự Đức ở địa phận xã phú Ninh ( Đồng Phú hiện nay) từ năm Minh Mạng thứ 8 (1827) đến Tự Đức thứ 5 (1851) dời về ở địa phận hai phường Kiên Bính và Cảnh Dương (thuộc phường Hải Đình ngày nay) về phía đông tỉnh thành.
  Trường học phủ Quảng Ninh: trước đời tự Đức ở xã Trung Trinh (phía đông phủ lỵ). Đời Minh Mạng thứ 8 (1827) đến Minh Mạng thứ 21 (1840) bỏ trường phủ ở Trung Trinh chỉ để trường huyện, đặt trường phụ, xây dựng trường phủ ở thôn Dục Tài, phía tây phủ lỵ.
  Trường học huyện Bố Trạch ở địa phận xã Mỹ Lộc, phía nam huyện lỵ, dựng từ năm Minh Mạng thứ 8 (1827).
  Trường học phủ Quảng Trạch: ở xã Phan Long, về phía tả phủ lỵ, trước là trường học của huyện Bình Chính, năm Minh Mạng thứ 18 (1837) đặt lỵ sở của phủ Quảng trạch ở đây nên chuyển thành trường phủ.
  Trường học huyện Lệ Thủy: ở xã Cỗ Liễu, về phía đông huyện lỵ, được xây dựng từ năm Minh Mạng thứ 8 (1827).
  Ngoài các trường công của tỉnh, của phủ, huyện ở các địa phương mở nhiều trường tư.  Bất cứ người nào có học lực kha khá đều có thể mở trường tư thục để dạy học. Mỗi làng có thể có vài ba lớp tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà những người giàu có nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học. Việc học ở Quảng Bình dưới thời nhà Nguyễn vì thế khá phát triển.
  Sách Quốc Triều khao bảng lục của Cao Xuân Dục ghi chép các khoa thi Hội thời nhà Nguyễn cho biết từ các khoa thi dưới triều Minh Mạng đến  các khoa thi dưới triều Khải Định tỉnh Quảng Bình có 43 người đỗ các học vị: 2 Hoàng Giáp, 22 Tiến sĩ, 19 Phó bảng.
  Khoa thi đầu tiên người Quảng Bình có người thi đỗ là khoa Mậu Tuất, Minh Mạng năm thứ 19 (1838) là:
 Nguyễn Cửu Trường ở xã Hoàng Công, huyện Lệ Thủy, sinh năm Đinh Mão (1807). Khi đỗ được thăng chức Tuần phủ tỉnh Biên Hòa. Khi Nguyễn Cữu Trường đi nhận chức, vua minh Mạng có tặng bài thơ trong đó có câu: “ Báo quốc chân vong bệnh/ Lâm dân yếu tự thanh” (Dịch: Lòng báo quốc lãng quên bệnh tật/ Phép trị dân cần nhất chữ thanh)
Phạm Chân người xã Cảnh Dương huyện Bình Chính, sinh năm Giáp Tý (1804) phong chức Án sát tỉnh Thanh Hóa.
Tạ Kim Vực người làng La Hà, huyện Bình Chính sinh năm Ất Sửu (1805), phong chức Bố chánh tỉnh Hải Dương. Gia đình họ Tạ có nhiều người thi đỗ các khoa sau đó: các em của ông Tạ Kim Pha, Tạ Ngọc Khuê , các con là Tạ Ngọc Đường, Tạ Kim Bảng đều đỗ Cử nhân và ông là bác của Tam giáp Tạ Hàm[12].
Ở xã Lý Hòa huyện Bố Trạch có gia tộc Nguyễn Duy, ông cháu, anh em đều đỗ đại khoa. Ông nội Tiến sĩ Nguyễn Huân có các cháu là Tiến sĩ Nguyễn Tích, Phó bảng Nguyễn Duy Thiệu, Nguyễn Duy Thắng, Cử nhân Nguyễn Duy Phiên, Nguyễn Duy Miễn, Nguyễn Duy Cần.
Ở Quảng Bình còn có nhiều dòng họ ở nhiều địa phương có nhiều người thi đỗ các kỳ thi. Các địa phương có  người đỗ đạt cao:
Huyện Bình Chính, Minh Chính (Quảng Trạch) có Cảnh dương, Di Loan, La Hà, Lộc Điền, Lũ Phong, Mỹ Hòa, Thổ Bình;
Ở huyện Tuyên Chánh có Lâm Xuân;
Ở huyện Bố Chính (Bố Trạch) là Cao Lao, Lý Hòa, Quy Đức;
           Ở huyện Lệ Thủy là Hòa Luật, Phù Chánh, Phong Lộc, Tả Thắng, Thạch Xá;
Ở Phong Đăng, Phong Lộc, Phong Phú ( Quảng Ninh) là Phan xá, Thạch Bàn, Cổ Hiền, Văn La, Phú Nhuận, Tiền Thiệp, Trung Bính[13]
Sách ĐNNTC của quốc sử quán triều Nguyễn còn chép: “ Hai xã Hòa Luật và Phù Chính (thuộc huyện Lệ Thủy) thường có người văn học. Bốn xã Sơn, Hà, Cảnh, Thổ ( Lệ Sơn, La Hà thuộc huyện Minh Chính, Cảnh Dương, Thổ Ngõa thuộc huyện Bình Chính), đời nào cũng có người khoa giáp”[14]
  Những người đỗ đạt ra làm quan trong thời kỳ đầu nhà Nguyễn đáng chú ý có một số nhân vật sau đây:
  Võ Trọng Bình, sinh năm 1808, người làng Mỹ Lộc huyện Phong Phú (sau thuộc huyện Lệ Thủy). Ông đỗ cử nhân năm 1834 dưới triều vua Minh Mạng năm thứ 15 được bổ đi làm tri huyện Hà Đa (Quảng Nam), sau được rút về triều giữ chức Án sát Ngự sử, Tổng đốc liên tỉnh Ninh- Thái, Tổng đốc liên tỉnh Định- Yên. Ông là người “liêm chính công bằng”, thạo việc hành chính. Năm Tự Đức lên ngôi (1848), khi làm Phủ Doãn tỉnh Thừa Thiên, ông đề nghị cho khơi sông Lợi Nông đưa nước tưới ruộng cho cánh đồng phía nam kinh thành Huế, đắp đê ngăn mặn bảo vệ mùa màng và nhiều lần xin miễn giảm thuế công điền cho một số tỉnh gặp khó khăn do thiên tai. Khi thực dân Pháp tấn công thành Nam Định ông đã cùng các quan quân anh dũng chiến đấu bảo vệ thành.  Khi về hưu an nghỉ tuổi già ở quê nhà, Võ Trọng Bình đã giúp đở rất nhiều cho nghĩa quân Cần vương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên đất Quảng Bình.
  Vũ Văn Cẩn người làng Hòa Luật, huyện Lệ Thủy đâuh cống sĩ ( ngang cử nhân) dưới thời các chúa Nguyễn, năm Gia Long lên ngôi, ông được mời vào làm việc tại hàn lâm viện, năm sau (1803)được cử làm Tham biện hiệp trấn Hưng Hóa rồi làm Cai bạ tỉnh Bình Định. Năm Minh Mạng thứ 14 (1834) được bổ dụng làm Tổng đốc liên tỉnh Bình- Phú (Bình Định, Phú Yên) sau được điều về triều giữ chức Thượng thư bộ Hình. Khi Thiệu trị lên ngôi ông được gia thăng chức Đông Các Đại học sĩ, hàm Thái tử Thiếu bảo. Trong cuộc đời làm quan, ông là người thanh liêm, luôn chăm lo đến đời sống của dân và là người được các triều Nguyễn  coi là bậc “ tứ triều nguyên lão”.
  Nguyễn Hàm Ninh, người xã Trung Ái (Trung Thuần) huyện Quảng Trạch, sinh năm Nhâm Thìn (1808) mất năm Đinh Mão (1867). Năm 1829 ông thi đỗ tú tài, năm 1831 thi đỗ cử nhân ( giải nguyên) được cử làm Hậu bổ tỉnh Ngệ An, sau ra làm Tri huyện huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh. Khi thân phụ mất, Nguyễn Hàm Ninh về nhà chịu tang sau đó vào Huế dạy học. Năm 1836 ông được vua Minh Mạng mời ra làm việc ở Quốc học độc thư sau đó vào làm Chủ sự phủ Tôn Nhơn. Trong cuộc đời làm quan ông là người thẳng thắn, trung thực, yêu nước thương dân. Trong sự nghiệp văn chương ông đã để lại nhiều thi phẩm, đặc biệt là tập “ Tĩnh Trai tiểu thảo” với 200 bài thơ và bài Phản Thúc ước đã để lại dấu ấn trong đời sống văn học thời bây giờ.
Đời sống tinh thần: Dưới thời nhà Nguyễn Nho giáo vẫn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân. Đạo đức xã hội vẫn được xây dựng trên cơ sở tam cương ngũ thường.  Chính vì vậy ở một số địa phương có lập Văn Miếu. Đền Văn Miếu của tỉnh được sách ĐNNTC nói đến được xây dựng từ năm Gia Long thứ 17 (1818) ở xã Phong Đăng. Khi thành lập tỉnh Quảng Bình, năm Minh Mạng thứ 19 (1838) được xây dựng gần thành Quảng Bình nằm về phía tây nam, đến đời Thiệu Trị cho sửa chữa lại. Theo các vị bô lão của làng Đồng Hới kể lại thì Văn Miếu thờ Đức Khổng Tử nằm ở Hồ Sen gần quốc lộ (khu vực phường Hải Đình ngày nay). Giữa tháng tư âm lịch hàng năm, các quan viên, học sinh trong làng học chữ Hán đều đến dâng hương, tổ chức nghi lễ trang trọng.
Trong đời sống tâm linh, nhân dân ở Quảng Bình thường hướng về các vị thần phù hộ độ trì cho cuộc sống dân chúng, những người đã có công dẹp giặc, những vị tiền nhân có công khai khai sơn phá thạch cho con cháu an cư lạc nghiệp vùng đất mới. Các đền miếu thờ thành hoàng, các vị tiền nhân khai khẩn hầu như ở địa phương nào cũng có. Ở quy mô tỉnh, sách ĐNNTC có chép lại một số đàn, đền, miếu sau đây:
Ở khu vực gần thành Quảng Bình trung tâm của tỉnh có:
Đàn Xã Tắc nằm phía tây bắc thành Quảng Bình (Đồng Hới ngày nay) dựng đời Minh Mạng thứ 14 (1833) thờ thần Xã Tắc của tỉnh Quảng Bình.
Đàn Tiên Nông nằm về phía đông nam thành dựng đời Minh Mạng thứ 14 (1833) thờ thần Tiên Nông ( thần Nông).
Đàn Xuyên Sơn nằm ở phía tây nam thành, dựng đời Tự Đức thứ 5 (1851) thờ thần Xuyên Sơn ( thần Núi).
Miếu Hội Đồng phía đông nam thành thờ Thần kỳ bản cảnh, được dựng từ năm Minh Mạng thứ 2 (1821), năm thứ 15 sửu chũa lại.
Miếu Tam Tòa ở phía tây bắc thành, dựng từ năm Minh Mạng thứ 2 (1821). Theo các cụ bô lão ở Đồng Hới thì miếu Tam Tòa thờ “Đại càn quốc gia Nam hải, tam tòa tứ vị thánh nương”. Hàng năm, dân làng Động Hải tổ chức lễ Xuân thủ kỳ yên tổ chức rước thần từ miếu Tam Tòa  về đình làng. hàng năm quan Tuần vũ thường đến đây làm lễ tế.
Miếu Long Vương ở động cát Phú Ninh (nay là Bàu Tró) thờ thần Long Vương, gặp hạn hán, cầu đảo ứng ngay.
Ngoài việc thờ thần linh, nhân dân còn lập đề thờ các vị tiền nhân đã có công với nước, với quê hương Quảng Bình như đền Hoằng Quốc Công thờ khai quốc công thần Đào Duy Từ; đền Anh Quốc Công thờ khai quốc công thần Nguyễn Hữu Tiến; đền Tĩnh Quốc Công thờ khai quốc công thần Nguyễn Hữu Dật; đền Vĩnh Yên ( Vĩnh An) thờ khai quốc công thần Nguyễn Hữu Kính ( Cảnh); đền Mai Công thờ xã trưởng Thủy Liên ( Sen Thủy) Mai Văn Bản; đền Song Trung thờ công thần triều Lê Hoàng Vĩnh Tộ và con là Vĩnh Dụ; đền Thủy Lan thờ Mai Văn An…
Việc thờ thần linh, các vị tiền nhân có công với nước, với quuê hương, các vị tiền nhân khai khẩn là một nét đẹp trong đời sống tinh thần của nhân dân Quảng Bình thời đó.
Về sinh hoạt tôn giáo: Đạo Phật được đưa vào vùng đất Quảng Bình từ thời Lý, lúc đó Phật giáo được coi là Quốc giáo. Nhiều chùa Phật được xây dựng dưới thời Lý, Trần, Lê. Trong thời Trịnh- Nguyễn, các chúa Nguyễn và các võ tướng khi có điều kiện vẫn cho tu sửa và xây dựng thêm các chùa thờ Phật ở các địa phương. Điển hình là chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã cho tu sửa chùa Hoằng Phúc và Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật cho xây dựng chùa Cảnh Tiên ở ấp Tráng Tiệp huyện Phong Lộc.  Đến thời nhà Nguyễn khi chiến tranh đã kết thúc, triều đình nhà Nguyễn và nhân dân nhiều nơi đã sửa chữa, tôn tạo khang trang hơn:
Chùa Kim Phong trên núi Thần Đinh, năm Minh Mạng thứ 6 được làm bằng tranh đến năm thứ 10 được người địa phương là Lê Văn Túc quyên tiền tu bổ lợp ngói.
Chùa Cảnh Tiên, ở ấp tráng Tiệp, huyện Phong Lộc do Khai quốc công thần Nguyễn Hữu Dật dựng, được chúa Nguyễn ban biển ngạch là “Sắc tứ Cảnh tiên tự”, trải qua loạn lạc chùa bị hư hỏng nặng, năm Minh Mạng thứ 8 (1827), Thiệu Trị thứ 2 (1842) cho trùng tu lại.
Chùa Hoằng Phúc (còn gọi là Kính Thiên) thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Chu đã cho sửa chữa tặng hoành phi “ Vô song phúc địa” và nhiều câu đối, đến đời  vua Minh Mạng và Thiệu Trị nhiều lần tu sữa thêm.
Chùa Linh Quang ở Bố Trạch, sau chiến tranh dân địa phương bỏ nhiều công sửa chữa, năm Minh Mạng thứ 21 (1840) lại trùng tu lớn.
Nhận xét về đời sống tinh thần của nhân dân Quảng Bình sách ĐNNTC viết : “ Hàng năm các tiết: thượng tiên, trừ tịch, chính đáng, đoan dương, tam nguyên và tứ quý nhà nào cũng sửa lễ cúng bái tổ tiên; tháng 6 tế thần cầu phúc, phần nhiều bày tiệc hát xướng, gọi là tàng cưu; tháng 7 lễ tiên tổ phần nhiều dùng đồ mã, gọi là tuần chay; lễ cưới, lễ tang, lễ mừng, lễ viếng cũng hay giúp đỡ nhau”[15]
Dưới thời nhà Nguyễn, công cuộc khai thiết ở Quảng Bình tuy đã có bước phát triển so với trước đây nhưng vẫn có nhiều hạn chế. Bị ràng buộc bởi phương thức bóc lột phong kiến lạc hậu, sức sản xuất không được giải phóng. Hàng năm thiên tai hạn hán, lũ lụt thường xuyên đe dọa, lại bị sự hà lạm, nhũng nhiễu của tầng lớp quan lại, đời sống của đại bộ phận nhân dân vẫn nghèo đói. Chính vì thế, ở nhiều nơi trong nước nhiều cuộc chiến tranh nông dân đã nổ ra với quy mô ngày càng lớn và mức độ càng ác liệt.
Nhận xét về chế độ phong kiến đến thời Tự Đức, nhà nghiên cứu lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Trần Trọng Kim viết : “ Nước nghèo, dân khổ, lại phải lúc có nhiều tai biến, người ngoài xâm lược, triều đình ngơ ngác không biết xoay xở thế nào, lòng người ly tán… Ấy là cái tình thế nước Việt Nam ta vào cuối đời Tự Đức là thế, cho nên sự nguy vong mới xảy ra”[16]
 
*
*       *
 
  Trong suốt 8 thế kỷ, theo xu hướng phát triển chung của lịch sử, công cuộc khai thiết vùng đất Quảng Bình đã có bước tiến trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội. Khi mới trở về lãnh thổ của Đại Việt, dưới triều Lý những cư dân đầu tiên của vùng đất Quảng Bình đã bắt tay vào công cuộc khai sơn phá thạch, lập làng định hình một cộng đồng dân cư từ Đèo Ngang vào đến Hạ Cờ với hai châu Bố Chính và Lâm Bình. Dưới triều đại Trần, Lê nhân dân Quảng Bình cần cù, chịu thương chịu khó, anh dũng ngoan cường vừa chiến đấu chống quân xâm lược, bảo vệ vùng biên cương phía Nam vừa đấu tranh với thiên nhiên xây dựng quê hương mình ngày càng trù phú. Suốt hơn 200 năm, trong cục diện Đàng Ngoài- Đàng Trong, vùng đất Quảng Bình phải chịu đựng nhiều cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn kéo dài gần 50 năm. Dẫu có những biến động của lịch sử, công cuộc khai thiết vẫn tiếp diễn chứng tỏ sức sống mãnh liệt của một vùng đất và con người Quảng Bình. Hơn thế nữa, vùng đất này đã có những đóng góp to lớn cho công cuộc mở cõi của dân tộc về phương Nam trong thời kỳ các chúa Nguyễn. 
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) tỉnh Quảng Bình chính thức thành lập, công cuộc xây dựng có điều kiện thuận lợi, nhưng những hạn chế của phương thức sản xuất và chế độ xã hội phong kiến đã kìm hãm sự phát triển của lịch sử.
Với sự nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn, giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân phải chịu cảnh áp bức, đô hộ của tư bản phương Tây.
Nhân dân Quảng Bình cùng với nhân dân cả nước phải tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài hơn một thế kỷ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhân dân ta đã giành lại độc lập tự do, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho công cuộc kiến thiết quê hương, đất nước.
Ngày nay, nhân dân Quảng Bình cùng cả nước đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ra sức phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
 
*  *  *
 


[1] Trích theo Nguyễn Minh Tường: Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh. NXB Khoa học xã hội. HN 1996, tr127
[2] Nguyễn Minh Tường: Sdd tr129
[3] Theo Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên. Sdd. Tập XI, tr214
[4] Theo Cao Xuân Dục: Đại Nam dư địa chí ước biên. Nxb Văn học. HN 2003. Tr194
[5] ĐNNTC viết thời Chiêm Thành là Bố Chinh sau mới đổi thành Bố Chính
[6] Trong ngoặc là tên dân gian thường gọi
[7] ĐNNTC. Sđd. Tr18
[8] Theo Trần Trọng Kim: Việt nam sử lược. Quyển 2. Nxb Tp HCM. 2000. Tr175
[9] ĐNNTC. Sđd. tr18
[10] Trần trọng Kim. VNSL. Q2. Sđd. Tr180
[11] Trần Triọng Kim: VNSL. Sđd. tr201
[12] Cao Xuân Dục: Quốc Triều khoa bảng lục. Nxb Văn học. 2001. tr 72-73
[13] Theo Quốc Triều khoa bảng lục. Sđ d. Tr 353-367
[14] ĐNNTC. Sđd. Tr15
[15] ĐNNTC. Sđd. Tr15-16
[16] Trần Trọng Kim: VNSL. Sđd. T2. Tr258

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Việc ứng dụng CNTT vào dạy học mang lại hiệu quả như thế nào?

Tốt

Khá

Trung bình

Không mang lại hiệu quả

Liên kết website




Danh Ngôn

Ðối với tôi, sự thật trong tình bạn là thiêng liêng không kém một cuộc hôn nhân vĩnh cửu.Katherine

Liên kết

Đảng Cộng Sản
Chính phủ
Bộ GD-ĐT
Sở GD-ĐT Quảng Bình
Thư viện giáo án
Hòm thư điện tử