Giới thiệu địa chỉ sửa chữa máy bơm nước, sửa chữa điện nước, sửa điện nước, sửa chữa điện nước tại nhà, thông tắc chậu rửa bát và cung cấp mua bán phụ tùng xe howo chính hãng chuyên nghiệp, uy tín, được nhiều bình chọn tin dùng tại Hà Nội

21:19 ICT Thứ sáu, 19/07/2019
Tập thể CB - GV - NV và Học sinh trường THCS và THPT Hóa Tiến thi đua Dạy tốt - Học tốt

Tin tức

Tổ chức

Tra cứu thông tin

Tài nguyên

Tiện ích

Facebook trường

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 45


Hôm nayHôm nay : 554

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8116

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1342330

Trang chủ » Tin Tức » Tin tức » 410 năm hình thành tỉnh Quảng Bình

thcsvathpthoatien.edu.vn

ĐÔI NÉT VỀ THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI QUẢNG BÌNH

Thứ sáu - 03/01/2014 10:37
I. THIÊN NHÊN QUẢNG BÌNH
1. Vị trí địa lý
Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: tỉnh Quảng Bình: “ Theo thiên văn thuộc về khu vực sao Dực sao Chẩn, về tinh thứ sau sao Thuần Vĩ. Theo sự suy trắc năm Minh Mệnh thứ 18, cực cao 17 độ, 17 phân, 58 giây, lệch về phía tây 53 phân”.
Ứng vào tọa độ địa lý ngày nay, tỉnh Quảng Bình có điểm cực Bắc thuộc huyện Tuyên Hoá ở tọa độ 18 độ 05' vĩ độ Bắc và 105 độ 52' kinh độ Đông; điểm cực Nam thuộc huyện Lệ Thuỷ ở tọa độ 17 độ 05'  vĩ độ Bắc và 106 độ 45' kinh độ Đông, điểm cực Đông thuộc huyện Lệ Thuỷ ở tọa độ 106 độ 59'37" kinh độ Đông và 17 độ 10' vĩ độ Bắc; điểm cực Tây thuộc huyện Minh Hoá ở tọa độ 105 độ 36'55" kinh độ Đông và 17 độ 52' vĩ độ Bắc.
Quảng Bình là tỉnh nằm ven biển Bắc Trung Bộ từ Đèo Ngang vào đến Vĩnh Linh (Quảng Trị), gắn liền với dải Trường Sơn Bắc ở phía tây và Biển Đông ở phía đông, có chiều ngang hẹp, nơi eo thắt của dải đất miền Trung, có diện tích tự nhiên trên đất liền là 8.037,6 km2.
Vùng đặc quyền lãnh hải Quảng Bình có diện tích 20.000km2, với 5 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn La, Hòn Gió, Hòn Cọ, Hòn Nồm và Hòn Chùa.
Địa giới Quảng Bình, phía Bắc giáp hai huyện Kỳ Anh và Hương Khê của tỉnh Hà Tĩnh với dải Hoành Sơn làm ranh giới tự nhiên, phía Đông vượt Đèo Ngang ở độ cao 253m, phía Tây qua thung lũng Rào Nậy( Sông Gianh), dài khoảng 134km; phía Nam giáp các huyện Vĩnh Linh, Hướng Hoá của tỉnh Quảng Trị, dài khoảng 95 km.
Đường ranh giới phía Tây cũng là biên giới quốc gia với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào dài 201,87 km. Đây là dãy Trường Sơn Bắc, đoạn núi này còn có tên là dãy Giăng Màn với đỉnh Phou- Copi cao 2017m ở thượng nguồn sông Gianh, đèo Mụ Dạ cao 418 m nằm trên đường 12, có cửa khẩu Cha Lo sát biên giới Việt Lào. Phía Đông là bờ biển từ Mũi Độc dưới chân Đèo Ngang đến Mũi Lạy (huyện Lệ Thuỷ) dài khoảng 116,04 km.
Phần đất liền, tính từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 87 km (từ điểm cao 1090 thuộc xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa đến thôn Hải Đông, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch); nơi hẹp nhất là 40,3km (từ cao điểm 1002 thuộc huyện Bố Trạch trên biên giới Việt Lào đến cửa biển Nhật Lệ, thành phố Đồng Hới).
Quảng Bình là vùng đất nối hai đầu đất nước, nơi giao thoa của những điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội của hai đầu Bắc- Nam. Quảng Bình có vị trí chiến lược quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong lịch sử, đây là nơi mở đầu cho công cuộc mở cõi về phương Nam mà dân tộc ta đã theo đuổi suốt gần 7 thế kỷ. Lịch sử khai thiết vùng đất Quảng Bình là lịch sử đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển; là lịch sử của các cuộc đấu tranh xã hội và chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền và vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
2. Cương vực - tên gọi
Thời kỳ Văn Lang- Âu Lạc, vùng đất Quảng Bình thuộc bộ Việt Thường.
Đầu thời kỳ Bắc thuộc, đời Tần thuộc Tượng quận. Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà sát nhập vào Nam Việt, chia Âu Lạc làm hai quận Giao Chỉ (Bắc bộ) và Cửu Chân (Bắc Trung bộ). Vùng Quảng Bình ngày nay thuộc quận Cửu Chân.
  Sau khi chiếm được Nam Việt, nhà Hán thành lập bộ Giao Chỉ gồm đất Nam Việt của Triệu Đà cũ và đất Âu Lạc trước đây, chia làm 3 quận là Giao Chỉ (Bắc bộ), Cửu Chân (Bắc Trung Bộ), và Nhật Nam (Trung Trung Bộ ). Phần đất Quảng Bình nằm trong quận Nhật Nam[1].
Khi nhà nước Lâm Ấp thành lập, vùng đất Quảng Bình trở thành lãnh thổ của Chiêm Thành với các châu Bố Chinh, Địa LỵMa Linh (có một phần của Quảng Trị ngày nay)[2]
Năm 1069 khi ba châu Bố Chinh, Địa Lỵ, Ma Linh nhập vào Đại Việt, nhà Lý đổi châu Bố Chinh thành Bố Chính, Địa Lỵ thành Lâm Bình, Ma Linh thành Minh Linh. Như vậy, sau khi vào Đại Việt dưới đời nhà Lý vùng đất Quảng Bình là châu Bố Chính, Lâm Bình và một phần Minh Linh.
Sang đời Trần, châu Lâm Bình được đổi thành phủ Lâm Bình. Đến đời Trần Duệ Tông, năm Long Khánh thứ ba (1374), phủ Lâm Bình được đổi thành phủ Tân Bình, sau được đổi thành lộ Tân Bình. Hồ Quý Ly lên ngôi thiết lập nhà Hồ đổi phủ Tân Bình thành trấn Tây Bình.
Sang đời nhà Lê, năm Quang Thuận thứ 10 (Kỷ Sửu- 1469) lập bản đồ trong cả nước đổi lộ Tân Bình thành phủ Tân Bình gồm hai huyện là Lệ Thủy và Khang Lộc và hai châu là Bố Chính và Minh Linh. Đến đời Lê Kính Tông vì kỵ húy (Kính Tông tên là Tân) nên đổi phủ Tân Bình thành phủ Tiên Bình
Đời các Chúa Nguyễn, năm Hoằng Định thứ 5 (1604), Chúa Tiên- Nguyễn Hoàng đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình sau đổi đặt làm dinh Quảng Bình. Phần đất châu Bố Chính được chia làm Nam Bố Chính (sau còn gọi là Nội Bố Chính) thuộc chúa Nguyễn, Bắc Bố Chính ( sau còn gọi là Ngoại Bố Chính) thuộc chúa Trịnh. Đời Tây Sơn nhập hai châu Bố Chính thành châu Thuận Chính.
Đời các vua Nguyễn, năm 1831, Minh Mạng thực hiện cải cách hành chính chia đặt tỉnh huyện trong cả nước. Tỉnh Quảng Bình được thành lập có địa giới như ngày nay.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 tỉnh Quảng Bình có 2 phủ, 7 huyện: Phủ Quảng Ninh có 3 huyện: Phong Lộc, Phong Phú ( Phong Đăng) và Lệ Thủy; Phủ Quảng Trạch có 4 huyện:  Bình Chánh, Minh Chánh, Bố Trạch và Tuyên Hóa. Tỉnh lỵ đặt tại thị xã Đồng Hới.
Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, Quảng bình có 2 phủ: Quảng Trạch và Quảng Ninh và 3 huyện: Lệ Thủy, Bố Trạch và Tuyên Hóa ( ba huyện này trực thuộc tỉnh chứ không thuộc phủ như trước đây).
Năm 1946 xóa cấp phủ và tổng, phủ Quảng Trạch và Quảng Ninh được gọi là huyện Quảng Trạch và huyện Quảng Ninh. Quảng Bình có 5 huyện: Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa và thị xã Đồng Hới
Sau năm 1954, Quảng Bình có 5 huyện: Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa và thị xã Đồng Hới. Năm 1965 chia Tuyên Hóa thành 2 huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa.
Tháng 4 năm 1976, theo Quyết định của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa thiên và khu vực Vĩnh Linh sát nhập thành lập tỉnh Bình Trị Thiên. Hai huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy sát nhập thành huyện Lệ Ninh; Tuyên Hóa và Minh Hóa sát nhập thành huyện Tuyên Hóa.
Tháng 7 năm 1989, tỉnh Bình Trị Thiên được chia thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế. Quảng Bình trở về địa giới cũ với tên gọi vốn có trước đây. Sau khi chia tỉnh, huyện Tuyên Hóa lại được chia thành 2 huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa; Lệ Ninh thành Lệ Thủy và Quảng Ninh.
Hiện nay tỉnh Quảng Bình có 6 huyện: Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy và thành phố Đồng Hới.
3. Khí thiêng sông núi
Tỉnh Quảng Bình có địa hình thấp dần từ tây sang đông. Phía tây là dãy Trường Sơn hùng vĩ được nâng cao qua các thời kỳ vận động tạo sơn, có nhiều đỉnh núi cao trên 1000m. Càng về phía đông, địa hình thấp dần, do hẹp chiều ngang nên độ dốc tương đối lớn. Vùng đồi mở rộng với nhiều nhánh núi tiến ra sát biển làm thu hẹp một phần đáng kể vùng đồng bằng duyên hải.
Địa hình Quảng Bình chia làm 4 vùng địa lý tự nhiên:
- Vùng núi nằm ở phía tây có diện tích khoảng 522.624ha chiếm 65% diện tích tự nhiên, thấp dần từ tây sang đông và từ bắc vào nam. Địa hình vùng núi có độ cao dao động từ 250m-1500m, trong đó phần lớn có độ cao 500m- 600m, đỉnh cao nhất là Phou- Copi (2.017m), một số ngọn có độ cao trên 1.000m như Cotarun (1.624m), Ba rền (1.137m), U Bò (1.009m).... Nói về những ngọn núi Quảng Bình, sách Ô Châu cận lục của Tiến sĩ Dương Văn An đời nhà Mạc viết:
Núi Hoành sơn: Núi ở Châu Bố Chính gần xã Sơn Tiêu (thuộc huyện Quảng Trạch ngày nay). Núi này chạy dài từ núi Tổ, thế như rồng cuốn hổ ngồi, trùng trùng điệp điệp kéo mãi ra tận biển. Vách đứng cao vạn nhận nom giống như bức trường thành, án ngữ cả một vùng phương Nam.
Núi Lỗi Lôi ở Châu Bố Chính gần cửa biển Di Luân ( thuộc huyện Quảng Trạch ngày nay). Núi này cùng với vịnh Chùa tả hữu đối nhau, có khe nước rất ngọt. Thuyền bè qua lại thường đậu lại nơi này. Leo lên cao phóng tầm mắt nhìn bốn phía chỉ thấy trời nước hoà hợp một màu, tưởng như ngọn núi thần mọc trên biển vậy.
Núi Đâu Mâu ở huyện Khang Lộc, gần xã Viễn Tuy ( Quảng Ninh ngày nay), đỉnh núi vươn rất cao và nhọn hoắt như hình mũ Đâu Mâu. Tục truyền trên núi có giếng, trong giếng có giống cá lạ. Trên núi có dòng sông lớn, có loài cua ngon sinh sống ở đây.
Núi Thần Đinh ở xứ Thạch Giang huyện Khang Lộc (Rào Đá, huyện Quảng Ninh ngày nay). Núi này có tên Bất Nghĩa, bởi vì các ngọn núi ở đây đều chạy theo cùng một hướng Đoài (hướng Tây), riêng ngọn núi này chạy theo hướng ngược lại, nên gọi như vậy.
Núi Mã Yên ở đầu nguồn huyện Lệ Thuỷ. Thế núi cao lớn, dáng hình uốn lượn, chỗ đứt đoạn chỗ liên tục, chỗ đổ xuống chỗ ngóc lên, trông như hình cái yên ngựa, có chỗ như ký mã thong dong, có chỗ như tuấn mã hăm hở. Tinh thần phong phú, khí tượng dồi dào.
Núi Liên Sơn ở địa phận huyện Lệ Thuỷ, trong núi có hẻm đèo, có con đường lớn chạy dọc theo, xen với rừng cây um tùm, phong cảnh kỳ thú. Dòng nước trong chảy vòng róc rách như tiếng ngọc, giọt đổ xuống tính tang nghe tựa tiếng đàn. Xuân sang đượm màu xanh ngắt, oanh hót véo von; hè về rợp bóng râm, ve kêu ra rả. Trăng thu vằng vặc, ngàn cây nhuốm rực màu son; ngày đông tuyết dày, muôn cành phủ toàn sắc trắng…
Đặc điểm nổi bật của vùng núi Quảng Bình là sự phân bố rộng rãi địa hình caxtơ với những dãy núi đá vôi  đồ sộ ở Khe Ngang và Kẻ Bàng liên kết với dãy Hin Nậm Nô (Khâm Muộn-Lào) tạo nên một vùng núi đá vôi rộng lớn ở Đông Nam Á. Sự kiến tạo của hệ thống núi đá vôi đã tạo nên hệ thống sông ngầm với những hang động dài và đẹp, đặc biệt là hệ thống hang động Phong Nha- Kẻ Bàng. Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, nơi có cấu tạo địa tầng, địa chất, địa mạo ghi dấu sự kiến tạo của lịch sử vỏ trái đất, được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên Thế giới năm 2003.
Vùng núi Quảng bình là nơi lưu giữ nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm tạo nên sự phong phú về đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới. Sản vật của núi rừng Quảng Bình đã được người xưa biết đến. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn năm 1776 viết:
Châu Bắc Bố Chính sản xuất nhân sâm, mật ong, sáp ong, sừng tê, ngà voi, sừng bò tót, diêm tiêu, giáng hương, trầm hương, tốc hương, song, mây, gỗ lim, gỗ hoa hèo, gỗ hoa nu, gỗ kiền kiền. Đầu nguồn châu Bắc Bố Chính có gỗ ngật, cũng gọi là gỗ dầu, sắc trắng mà chất mềm mịn, để lâu thì vàng dần. Uốn cong không gãy, có thể làm cánh nỏ được. Châu Bắc Bố Chính có cao mật dâu. Nhân sâm sản xuất ở xã Phù Lưu, Tiên Lễ...Rừng núi hai chỗ nguồn Trạm và nguồn Cộc thuộc huyện Khang Lộc có nhiều gỗ tốt; gỗ táu đen bền như sắt...gỗ kiền kiền thớ gỗ nhỏ mịn, cứng bền lâu hỏng, chôn sâu dưới đất mấy thước trăm năm không hư…
Vùng gò đồi có diện tích 161.775 ha chiếm khoảng 20% diện tích tự nhiên, có độ cao trung bình từ 50- 250m, độ dốc trung bình 3-8 độ, phân bố hầu hết các huyện trong tỉnh. Vùng gò đồi chạy dọc theo các thung lũng sông suối là vùng chuyển tiếp giữa các vùng núi thấp với dải đồng bằng ven biển. Được cấu tạo bởi đá trầm tích lục nguyên, chịu tác động mạnh bởi quá trình bóc mòn, rửa trôi, biến chất nên địa hình vùng gò đồi có dạng mền mại, thường là những dãy đồi thấp, dạng hành lang và những quả đồi đứng độc lập.
Vùng đồng bằng ven biển có độ cao từ 15m trở xuống với khoảng 88.561 ha chiếm 11% diện tích tự nhiên. Đây là các đồng bằng có nguồn gốc mài mòn, bồi tụ, phân bổ chủ yếu ở các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ và Thành phố Đồng Hới. Đây là vùng trồng cây lương thực nhất là lúa và là mơi tập trung đông dân cư của tỉnh.
Vùng cồn cát ven biển chạy dọc theo đường bờ biển từ chân Đèo Ngang (Quảng Trạch) đến Mũi Lạy (Lệ Thuỷ) có chiều dài 126 km. Diện tích vùng cát khoảng 32.140 ha chiếm 4% diện tích tự nhiên. Dải cồn cát này có độ cao từ 2-3m đến 30-40m, nơi rộng nhất đến 7km, có độ dốc lớn, chịu tác động mạnh bởi quá trình hoạt động của gió và nước dẫn đến hiện tượng cát bay, cát lấp vùng đồng bằng ven biển.
Bờ biển Quảng Bình chủ yếu là kiểu bờ biển mài mòn, bồi tụ xen kẻ với nhau. Ngoài khơi có 5 đảo nhỏ: Hòn La, Hòn Gió, Hòn Nấm, Hòn Cọ, Hòn Chùa. Bờ biển và vùng biển Quảng Bình có nhiều loại hải sản quý.
Cấu tạo địa hình với những sản vật phong phú là điều kiện cho sự sinh tồn của những cư dân Quảng Bình ngay trong buổi bình minh của lịch sử.
Sông ngòi: Quảng Bình có mạng lưới sông ngòi khá phong phú, mật độ đạt khoảng 0,6-1,85km/ km2 nhưng phân bố khồng đều, ở miền núi là 1km/1km2, ở ven biển chỉ đạt 0,4- 0,5km/km2. Có 5 lưu vực sông chính đều đổ ra biển đông, từ Bắc vào Nam có: sông Ròn, sông Gianh, sông Bố Trạch, sông Dinh và sông Kiến Giang- Nhật Lệ. Tổng số có 85 sông lớn nhỏ, gồm 30 sông phụ lưu cấp I; 24 sông phụ lưu cấp II; 9 sông phụ lưu cấp III và nhiều con suối khác.
- Sông Ròn có chiều dài 30 km, diện tích lưu vực nước là 261km2 có cửa biển Ròn xưa gọi là cửa biển Di Luân.
Sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An chép: " Cửa ở châu Bố Chính. Phía xa có núi Hoành sơn chắn phía Tây; núi Ngỗi Sơn chắn ở phía Bắc; gần thì thôn chài ở đông đúc hai ven bờ Bắc Nam. Mắm muối cá ướp ở đây là ngon nhất".
- Sông Gianh, trước đây có tên là Linh Giang, Thọ Linh (chảy qua huyện Thọ Linh xưa), tên dân gian gọi là Rào Nậy có chiều dài 160 km, diện tích lưu vực nước là 4680 km2. Sông Gianh có lưu vực lớn nhất với hơn 30 sông, suối phụ lưu lớn, nhỏ. Sông Gianh bắt nguồn từ đỉnh núi Phou- Copi ( 2017m) thuộc dãy Giăng Màn (Trường Sơn) chảy qua Bãi Dinh, Thanh Lạng, Khe Nét, Tuyên Hoá, Ba Đồn và đổ ra cửa Gianh.
- Sông Bố Trạch còn gọi là sông Lý Hoà, xưa còn có tên là sông Bố Chính (chảy qua địa phận châu Bố Chính), tên dân gian gọi là Rào Cày dài khoảng 22km. Sông Bố Trạch bắt nguồn từ các ngọn đồi ở phía tây huyện Bố Trạch, cửa sông nằm giữa làng Lý Hoà và làng Quy Đức (Đức Trạch ngày nay).
- Sông Dinh dài khoảng 37 km bắt nguồn từ núi Ba Rền, chảy qua các ngọn đồi ở Bố Trạch theo hướng tây nam- đông bắc và đổ ra biển giữa hai làng Lý Nhân Bắc và Lý Nhân Nam. Cửa sông được đặt tên là Cửa Nón. Sông Dinh vào mùa hè hầu như khô cạn nhưng đến mùa mưa thì nước dâng đầy, chảy xiết.
- Sông Kiến Giang- Long Đại- Nhật Lệ.
Sông Kiến Giang (tên củ là Bình Giang) Sách Ô Châu cận lục chép:
"Sông Bình Giang ở huyện Lệ Thuỷ, nước sông trong xanh, vị ngọt, khuấy không vẩn đục, uống không biết chán. Đây là con sông đẹp nhất trong xứ. Ven hai bờ sông là nhà dân, thôn chợ, công sở, huyện lỵ, quận thú, trấn thành của hai huyện Lệ Thuỷ và Khang Lộc rất sầm uất. Nước sông từ đầu nguồn Thổ Lý chảy về, khoảng giữa trải ra mênh mông vạn khoảnh, đủ cho muôn thuyền đi lại, hạ lưu dần dần thu hẹp lại, chỉ đi lọt một con thuyền, rồi từ đó đổ vào phá lớn mà thông ra bể...
Sông Kiến Giang (nguồn Đợi) bắt nguồn từ dãy Trường Sơn chảy theo hướng tây bắc- đông nam qua núi Thần Đinh hợp long với dòng Long Đại (nguồn Côộc). Đoạn Kiến Giang và Long Đại nhập lại ở phía bắc làng Cổ Hiền (còn gọi là làng Côộc) chảy ra biển gọi là sông Nhật Lệ.
Sách Ô Châu cân lục viết:
Cửa biển Nhật Lệ ở huyện Khang Lộc. Các nguồn Thổ Lý, An Đại đổ ra đây. Tuy thế nước chảy về phương bắc, nhưng ở giữa có 3 ngọn núi nổi ở giữa, phía ngoài có cát đá nổi trên mặt nước, đây cũng là một cửa khẩu quan trọng...Phá Nhật Lệ ở cửa biển Nhật Lệ huyện Khang Lộc, cồn cát mênh mông, chất cao sầm uất. Biển lớn chảy phía Đông Bắc, núi chầu hướng Tây Nam, ngàn khoảnh mêng mang, một bầu trong vắt, khuấy không thể đục, lắng không trong thêm. Đây chính là cảnh non nước xinh đẹp nhất vậy..."
Trải qua quá trình kiến tạo địa chất lâu dài, chịu tác động của vận động tạo sơn là tiền đề tạo cho Quảng Bình có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú. Nhưng khoáng sản kim loại trữ lượng không lớn, phân tán, ít có giá trị khai thác công nghiệp, chỉ có khoáng sản phi kim loại có trữ lượng lớn nhất là đá vôi, cao lanh và cát sạn xây dựng. Nhìn chung đất ở Quảng Bình nghèo dinh dưỡng, tầng đất mỏng và chua, diện tích đất phù sa ít nhưng Quảng Bình có tài nguyên rừng phong phú với hệ tài nguyên động thực vật phong phú, quý hiếm. Với hệ thống sông ngòi có lưu vực lớn, nguồn nước dồi dào nhưng sông ngắn và dốc đặt ra nhiều thách thức trong việc trị thủy.
Nằm ở dải đất hẹp, uốn theo hình vòng cung của đất nước, khí hậu Quảng Bình mang những nét đặc trưng của miền khí hậu Đông Trường Sơn. Tuy có chế độ mưa ẩm phong phú nhưng nằm trên hành lang chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới của biển Đông và Thái Bình dương nên thường xuyên bị bão lũ và mùa hè thường có gió Lào khô nóng gây ra hạn hán.
Tồn tại trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, người dân ở đây luôn vượt qua mọi khó khăn, trở ngại, tôi luyện ý chí, đứng vững trên mảnh đất nghìn đời của cha ông.
Có trời đất này mới có núi sông này, có núi sông này thì mới có con người này. Bởi từ khi trời đất mở mang thì núi sông xuất hiện. Núi mọc, sông chảy thì muôn vật sinh ra. Không có núi sông thì không thấy được công tạo lập của trời đất. Không có muôn vật thì không thấy được khí hun đúc của sông núi” - Dương Văn An
Khí thiêng sông núi đã góp phần hun đúc nên con người Quảng Bình suốt chiều dài lịch sử.
 
II
CON NGƯỜI QUẢNG BÌNH
 
  1. Thời tiền sử
Qua những công trình nghiên cứu, thám sát, khai quật khảo cổ học của các học giả trong và ngoài nước  cho chúng ta biết rằng con người đã có mặt ở vùng đất Quảng Bình khá sớm, vào thời kỳ đầu của cuộc Cách mạng đồ đá mới và sau đó tiếp tục sinh tồn qua các giai đoạn lịch sử kế tiếp. Đó là quá trình thích nghi, đấu tranh với thiên nhiên, xã hội để tồn tại và phát triển.
Những chủ nhân của Văn hoá Hoà Bình[3].
Dấu tích của những chủ nhân nền Văn hóa Hòa Bình ở Quảng bình được phát hiện với các di chỉ khảo cổ ở Yên Lạc (Yên Hóa, Tuyên Hóa), Kim Bảng (Minh Hóa), Xóm Thón (Thượng Hóa, Minh Hóa) ,Khe Trăn, Khe Tong (lớp dưới), Xóm Thâm (lớp dưới), và Đức Thi (lớp dưới)…
Ngoài ra còn các di tích khác, phân bố ở nhiều nơi trên vùng thượng du Quảng Bình.
Các di tích này đều phân bố trong các hang động hoặc mái đá thuộc các khối đá vôi ở vùng thượng du, đó là những ngôi nhà tự nhiên vững chắc của họ. Những nơi  này thường khô, đủ sáng và nằm không cao so với thung lũng để tiện cho việc đi lại, kiếm sống. Gần nơi họ cư trú thường là một con suối có bãi bồi nối tiếp những thung lũng giữa những dãy núi đá vôi. Trên núi là những cánh rừng với hệ sinh thái động, thực vật đa dạng, phong phú; có nguồn nước, nguồn thức ăn từ thuỷ sinh, động vật rừng và nguồn đá cuội để chế tác công cụ.
Công cụ bằng đá của cư dân ở đây được chế tác từ đá cuội lấy từ sông suối, một nguồn nguyên liệu sẳn có nơi họ cư trú. Kỹ thuật chế tác chủ yếu là đập bể, ghè đẽo và đã xuất hiện kỹ thuật mài đơn giản. Đặc điểm nổi bật của loại hình công cụ đá này là đa dạng, không định hình, không được tu chỉnh cẩn thận.
Thức ăn của những cư dân ở các di chỉ này là các loài nhuyễn thể  bắt được từ các khe suối và những thú rừng. Các loài nhuyễn thể thường thấy là ốc núi, ốc suối, các loại trai, hến, cá cua và các loài thuỷ sản nước ngọt khác. Với các loài nhuyễn thể có vỏ cứng và giòn, có nhiều lớp chồng lên nhau người ta phải ghè đập lấy thịt làm thức ăn. Có loại trai lớn được ghè cạy lấy vỏ làm thìa, làm cái đun nấu thức ăn. Các động vật rừng thường thấy là các loài lưỡng cư, bò sát và cả các loài động vật có vú. Khi săn được, lấy thịt ăn, phần xương, răng được người Hoà Bình ở đây lựa chọn để chế tác công cụ. Đó là những đoạn xương ống được mài nhọn phần mũi, hoặc mài phần rìa bên ngoài tạo thành những chiếc đục để đục các loại vật liệu mền hơn hoặc làm dao mổ xẻ các động vật săn bắt được.
Một số di chỉ ở đây còn để lại những di vật gốm. Báo cáo khai quật của M. Colani về các di chỉ ở đây cho biết: "có một vài mảnh gốm cổ trên mặt hang", hay "một vài mảnh gốm tìm thấy với rìu mài". Di vật gốm ở đây thô, bề ngoài và trong sần sùi, không có hoa văn trang trí, kiểu dáng giản đơn, đáy tròn không có chân đế. Những di vật gốm tìm thấy ở Quảng Bình thuộc nhóm gốm sớm thuộc văn hoá Hoà Bình.
Những cư dân văn hoá Hoà Bình đã có khái niệm về thẩm mỹ, về cái đẹp trong đời sống thường ngày của họ. Tại các di tích đã tìm thấy những viên thổ hoàng bị mài vẹt, có thể đó là những vật phẩm dùng để tô màu trang trí của người nguyên thuỷ lúc bấy giờ. Đặc biệt ở hang Thượng Phú (xã Thượng Lâm, huyện Tuyên Hoá), bên hữu ngạn sông Rào Nậy cách hang Minh Cầm 5km, năm 1930 M. Colani đã phát hiện được hai bức bích hoạ khắc trên vách đá có chiều cao 1,3m, rộng 1,0m. Trên đó có khắc những khối hình gần giống như hình con chim cách điệu và những hình gấp khúc giống như chữ tượng hình mang ý nghĩa tôn giáo. M. Colani cho rằng đây là sản phẩm sáng tạo của con người chứ không phải là vốn có của tự nhiên.
Sự tồn tại của những cư dân cỗ ở nơi này chứng tỏ: "Quảng Bình là vùng đất lịch sử lâu đời. Những cộng đồng dân cư cỗ đầu tiên cư trú trên đất Quảng Bình mang đặc trưng văn hoá Hoà Bình, ít ra từ trên 10.000 năm trước"[4]
Những chủ nhân của Văn hoá Bàu Tró[5].
Sau thời kỳ đầu đồ đá mới, những chủ nhân văn hóa Hòa Bình nơi đây đã tiến vào hậu kỳ thời đại đồ đá mới - sơ kỳ kim khí.
Năm 1922- 1923, nhà nghiên cứu E. Patte đã phát hiện và tiến hành khai quật di chỉ Minh Cầm, di chỉ Bàu Tró và sau đó nhiều cuộc khai quật của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước với nhiều di chỉ khác cho thấy dấu tích của văn hoá của thời kỳ hậu đồ đá mới- sơ kỳ kim khí đã phát hiện ở nhiều nơi trên đất Quảng Bình. Trong số 13 di chỉ được khai quật, thám sát thì có 5 di chỉ thuộc nhóm đầu (nhóm di chỉ ở miền núi) là Minh Cầm, Hang Rào, Khe Toong (lớp trên), Xóm Thâm (lớp trên) và Đức Thi (lớp dưới); 8 di chỉ còn lại thuộc nhóm hai (nhóm di chỉ ở đồng bằng) là Bàu Tró, Bàu Khê, Ba Đồn I, Ba Đồn II, Cồn Nền, Bàu Sen, Lệ kỳ và Thoóc Lóc.
Sự tồn tại những dân cư của thời kỳ này ở các di chỉ trên chứng tỏ những cư dân vùng núi vẫn tiếp tục sống trong các hang động, mái đá ở các di chỉ cũ, nhưng đồng thời cho thấy nhiều bộ phận dân cư trong cuối thời đại đồ đá mới- sơ kỳ kim khí đã có mặt ở đồng bằng, nơi có những bãi cát phù sa được bồi tụ ven sông và ven biển. Các di chỉ này (Ba Đồn I, Ba Đồn II, Cồn Nền) có vị trí gần kề nhau. Các di chỉ ở Đồng Hới, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ, tuy cách xa nhau nhưng có một đặc trưng chung là nằm trên bãi phù sa ven sông, ven bàu nước ngọt. Việc xuất hiện các nhóm dân cư ở đồng bằng gắn liền với quá trình hình thành đồng bằng sau đợt biển tiến Holocen trung (7000- 4000 năm). Địa bàn cư trú của cư dân nguyên thuỷ lúc này đã được mở rộng không còn bó hẹp ở hang động, mái đá vùng núi như cư dân văn hoá Hoà Bình trước đây. Không gian cư trú rộng mở, môi trường sống và điều kiện tự nhiên không hoàn toàn giống nhau nhưng những nét đặc trưng của thời kỳ hậu đồ đá mới- sơ kỳ kim khí đã đã để lại dấu ấn khá rõ nét từ công cụ, kỹ thuật chế tác và đời sống dân cư.
Về công cụ, chủ yếu vẫn là công cụ đá lấy từ đá gốc trầm tích biến chất và silic pha vẩy sét. Nhìn chung, công cụ được chế tác từ đá silic là phổ biến. Bên cạnh đó đá gốc, đá cuội được cư dân ở đây tiếp tục sử dụng nhưng đã có những bước tiến vượt bậc trong kỹ thuật chế tác. Cũng như cư dân ở các vùng khác trong thời kỳ này, kỹ thuật ghè đẽo, tu chỉnh, mài, cưa, tra cán trong quá trình chế tác công cụ đá đã đạt tới trình độ cao. Sản phẩm của quá trình chế tác này là những chiếc rìu, bôn đá có vai và tứ giác đã được mài toàn thân; cuốc có vai xuôi và không vai, đục, dao đá đã được mài.
Bên cạnh công cụ, đồ trang sức bằng đá thời kỳ này tương đối phong phú về thể loại như vòng tay, khuyên tai, nhẫn và hạt chuỗi hình ống...
Đồ gốm là một đặc trưng của các di chỉ thời kỳ này. Các đồ gốm tìm thấy ở đây có sự tương đồng khá cao về chất liệu, loại hình, kỹ thuật chế tác cũng như hoa văn trang trí. Về màu sắt, có ba loại gốm: gốm đỏ, gốm xám và gốm đen. Đa số hiện vật gốm là gốm thô có hoa văn thừng, nhất là loại hoa văn thừng biến thể giống hoa văn in trên mai rùa. Một số gốm mịn có hoa văn giữa khắc vạch, miết láng gắn liền với các loại đồ dùng nhỏ. Về kỹ thuật chế tác, những người thợ gốm nguyên thuỷ ở đây đã nắm vững các khâu kỹ thuật từ pha chế nguyên liệu, tạo dáng, xử lý bề mặt, trang trí hoa văn đến nung chín. Họ đã biết pha cát vào đất sét để giảm bớt độ dẻo, dễ nhào nặn, tăng độ bền, chống rạn nứt và còn biết điều chỉnh tỷ lệ cát để cho ra những sản phẩm gốm có công dụng khác nhau. Về kỹ thuật tạo dáng, họ đã biết dùng bàn xoay nhưng phổ biến là dùng bàn đạp, hòn kê kết hợp nặn bằng tay. Kỹ thuật bàn xoay chỉ hổ trợ khi tu chỉnh phần miệng, vai và đế của sản phẩm. Hầu hết đồ gốm thời kỳ này đều có một lớp áo mỏng phủ bên ngoài bằng một lớp dung dịch đất sét pha lỏng vừa để che lấp xương gốm, vừa để cho gốm bền đẹp. Đồ gốm trong các di chỉ tìm thấy đều được nung với nhiệt độ khá cao, chín đều, thuần nhất, chứng tỏ kỹ thuật nung đã đạt tới trình độ hoàn thiện. Loại hình gốm thời kỳ này tương đối phong phú, đa dạng như loại hình miệng thẳng, miệng loe, miệng khum, có tai. Gốm có miệng loe được tạo dáng cuốn cong mép, cuốn hình con sâu, có loại được trang trí hoa văn hình thoi, gân lá, hình chữ S...Ngoài bình gốm là loại hình phổ biến, người ta còn thấy các loại cốc gốm, mâm bồng, chạc gốm (chân giò) chứng tỏ công dụng của gốm là khá phổ biến trong đời sống cư dân của thời kỳ này.
Trong các di chỉ khảo cổ người ta còn tìm thấy nhiều "đống rác bếp" trong đó có chứa vỏ ốc nước ngọt, ốc núi, mai rùa, loài giáp xác. Trong tầng văn hóa còn tìm thấy nhiều xương, răng động vật như hươu, nai, lợn rừng, vượn và nhiều nhất là tê ngưu. Trong các di tích này còn thấy vết tích mộ táng và di cốt người như ở Minh Cầm, Hang Rào, Xóm Thâm, Đức Thi và Cồn Nền. Dựa vào đặc trưng đồ gốm và đồ trang sức bằng vỏ nhuyễn thể nằm chung với di cốt, các nhà nghiên cứu cho rằng họ chính là chủ nhân của thời kỳ văn hóa hậu kỳ đồ đá mới- sơ kỳ kim khí ở Quảng Bình.
Trên cơ sở xem xét, chỉnh lý các nguồn tài liệu cũ kết hợp với việc khảo sát thực địa và so sánh đối chiếu với những di chỉ đã được phát hiện nhiều nơi khác, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội do giáo sư Hà văn Tấn đã xếp các di tích ở đây vào hậu kỳ đồ đá mới. Riêng đối với các di chỉ phân bố vùng đồng bằng ven biển thì thành một loại hình văn hoá riêng: Văn hoá Bàu Tró. Theo nhiều nhà nghiên cứu, văn hoá Bàu tró ở Quảng Bình có 2 giai đoạn phát triển: giai đoạn sớm tiêu biểu các di chỉ Bàu Tró, Bàu Khê, Ba Đồn I, Hang Rào, Khe Toong và giai đoạn muộn mở đầu là Ba Đồn II và kết thúc là Cồn Nền[6]
Sau văn hoá Hoà Bình, trên đất Quảng Bình tồn tại văn hoá hậu kỳ đồ đá mới- sơ kỳ kim khí đó là văn hoá Bàu Tró. Cư dân văn hoá Bàu Tró có sự kế thừa những yếu tố văn hoá Hoà Bình ở giai đoạn trước, đồng thời có mối quan hệ với cư dân ở vùng lân cận như Nghệ An, Hà Tĩnh ở phía bắc, Quảng Trị ở phía nam và có thể cả với cư dân ở phía tây là Lào.
Với sự phát triển của kỹ thuật chế tác công cụ đá, một bộ phận cư dân văn hoá Bàu Tró đã mở rộng địa bàn cư trú, gắn với sự chiếm lĩnh và khai phá đồng bằng. Những cư dân này đã có sự năng động, thích ứng, giao hòa rộng rãi nhờ đó mà trong lòng văn hoá Bàu Tró đã có mặt những yếu tố văn hoá tiền Đông Sơn cuả giai đoạn phát triển sau này
Sau thời kỳ văn hoá Bàu Tró các chủ nhân ở vùng đất Quảng Bình tiếp tục phát triển kỹ thuật chế tác công cụ, đời sống xã hội phát triển và bước tiếp vào thời kỳ văn hoá Đông Sơn, thời kỳ văn minh dựng nước với thời đại Văn Lang- Âu Lạc. Sự phát triển liên tục của các thế hệ con người ở đây qua các giai đoạn phát triển của lịch sử đã hình thành nên một cộng đồng dân cư ổn định như ngày nay.
  1. Cộng đồng các dân tộc
Đến nay dân số Quảng Bình có hơn 85 vạn người[7] với nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống. Ngoài dân tộc Kinh chiếm phần đông còn có các tộc người của các dân tộc ít người chiếm hơn 2% dân số. Đây là nơi gặp gỡ, hội tụ của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme và nhóm ngôn ngữ Việt-Mường .
Địa bàn cư trú của các dân tộc ít người là vùng miền tây Quảng Bình, nơi rừng núi, nguồn nước, gần với thiên nhiên, phù hợp với điều kiện kinh tế hái lượm trước đây. Sự định cư của các dân tộc này đã có từ lâu, được Lê Quý Đôn nhắc đến trong Phủ Biên tạp lục với tên gọi chung là “ Sách” 
Trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, ngoài dân tộc Kinh chiếm phần đông, Quảng Bình có hai dân tộc ít người với 15 nhóm khác nhau (còn gọi là tộc người).
Dân tộc Bru-Vân Kiều thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơme gồm các tộc người Vân Kiều, Khùa, Ma Coong, Trì có khoảng gần 15.000 người[8].
Người Vân Kiều ở Quảng Bình phần lớn có nguồn gốc từ các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Quảng Trị, di cư qua các thời kỳ khác nhau, nhất là sau 1954. Người Vân Kiều cư trú chủ yếu ở vùng núi tây-nam Quảng Bình tại các xã Ngân Thủy, Kim Thủy, Lâm Thủy (Lệ Thủy); Trường Sơn, Trường Xuân ( Quảng Ninh) và một số bản của huyện Bố Trạch
Người Trì và Ma Coong cư trú nhiều ở xã Thượng Trạch (Bố Trạch), giáp biên giới Việt- Lào. Họ sống xen cư với người Khùa và cả người A Rem, Sách. Người Trì và người Ma Coong có quan hệ thân tộc với bà con với người Lào
Người Khùa cư trú tập trung tại xã Dân Hóa, Trọng Hóa (Minh Hóa) và một bộ phận ở Thượng Trạch (Bố Trạch). Ở Dân Hóa người Khùa sống xen kẽ với người với người Mày và người Sách. Giống như người Trì và người Ma Coong, người Khùa cũng có họ hàng với người Lào.
Tiếng nói của các tộc người Vân Kiều, A rem, Ma Coong, Trì, Khùa thuộc ngôn ngữ Môn- Khơ me, người tộc này nói thì người tộc kia hiểu và ngược lại. Sự khác nhau chỉ về mặt phương ngữ của một ngôn ngữ thống nhất. Gia đình của các tộc người Bru- Vân Kiều là gia đình phụ quyền nhưng vẫn còn nhiều dấu vết của chế độ mẫu quyền đặc biệt là người Khùa. Các tộc người Bru- Vân Kiều sống bằng nương rẫy và săn bắt, hái lượm. Trước đây phương thức canh tác chủ yếu là phát, cốt, đốt, trĩa nay đã biết làm ruộng nước, dùng phân bón, làm thủy lợi nên năng suất cây trồng khá hơn và đời sống được cải thiện nhiều. Họ có đời sống văn hóa, tinh thần khá phong phú, coi trọng việc thờ cúng tổ tiên và các hoạt động cộng đồng.
Dân tộc Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt- Mường gồm các nhóm: Rục, Sách, A Rem, Mày, Mã Liềng có khoảng hơn 3.300 người cư trú chủ yếu ở miền Tây các huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa và Bố Trạch.
Người A rem cư trú lâu đời ở miền Tây huyện Bố Trạch, hiện tập trung chủ yếu ở xã Tân Trạch trên Đường 20, một số ít sống ở Thượng Hóa ( Minh Hóa) xen kẽ với người Ma Coong và người Trì.
Người Mã Liềng cư trú tập trung ở xã Lâm Hóa và Thanh Hóa thuộc huyện Tuyên Hóa.
Người Mày sống tập trung ở xã Dân Hóa huyện Minh Hóa, sống xen kẽ với người Khùa, Sách.
Người Rục  sống tập trung ở Thượng Hóa và Hóa Sơn huyện Minh Hóa.
Người Sách sống tập trung ở các xã Thượng Hóa, Hóa Sơn, Hóa Hợp, Hóa Tiến, Trung Hóa huyện Minh Hóa và một ít cư trú tại Thượng Trạch ( Bố Trạch).
Đời sống của các tộc người Chứt trước đây chủ yếu là săn bắt, hái lượm, du canh du cư theo các nguồn nước và hang động. Ngày nay, đồng bào đã sống định canh, định cư biết làm nương rẫy, chăn nuôi nhưng cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn. So với các nhóm người khác trong dân tộc Chứt, người Sách đã biết làm lúa nước, chăn nuôi từ lâu.
Ngoài các nhóm thuộc hai dân tộc chủ yếu ở Quảng Bình hiện có một ít người thuộc các dân tộc khác như Thổ, Mường, Tày, Ê Đê, Thái, Pa Cô, Giẻ Triêng, Cao Lan, Krai sống xen ghép với các dân tộc  khác.  
3. Sắc diện văn hóa
Trải qua các giai đoạn lịch sử, con người Quảng Bình đã được hun đúc, rèn luyện để tạo nên một cộng đồng dân cư cố kết bền chặt, xây dựng nên những giá trị tinh thần truyền thống quý báu, những sắc diện văn hóa của một vùng đất và đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc.
Trong thời kỳ đấu tranh giành lại độc lập dân tộc, các cộng đồng dân cư ở đây đã tỏ rõ chí khí, anh dũng chiến đấu đánh đuổi các đội quân xâm lược phong kiến phương Bắc.
Khi được trở về trong quốc gia Đại Việt, người Quảng Bình đã có những đóng góp to lớn trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc và mở nang bờ cõi về phương Nam qua các triều đại phong kiến.
Qua những biến động lịch sử, mảnh đất Quảng Bình đã từng là chiến địa của cuộc chiến tranh kéo dài suốt 50 năm của hai tập đoàn phong kiến Trịnh- Nguyễn. Con người ở đây đã chịu nhiều đau thương, hy sinh mất mát nhưng nhưng vần tông tai và phát triển theo xu hướng của lịch sử
Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, dưới ngọn cờ Cần Vương các thân sĩ yêu nước Quảng Bình đã lãnh đạo nhân dân các địa phương đứng lên chống quân xâm lược.
Bước vào thời kỳ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam người Quảng Bình đã có những đóng góp xứng đáng trong hai cuộc kháng chiến giành lại độc lập dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quảng Bình có cao trào “Quảng Bình quật khởi"  với những chiến công vang dội của Cảnh Dương, Cự Nẫm, Hưng Đạo, Xuân Bồ làm cho giặc Pháp bao phen khiếp vía kinh hồn. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng là tỉnh "Hai giỏi" (chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi) đã có những đóng góp to lớn cho sự toàn thắng của dân tộc trong mùa Xuân 1975 lịch sử.
Quảng Bình, tên gọi của một vùng đất mà ở đó, chiến sĩ và nhân dân đã sáng tạo ra những khẩu hiệu chiến đấu đầy ý chí ngoan cường và lòng quả cảm: “Hãy nhằm thẳng quân thù mà bắn”, “ Xe chưa qua nhà không tiếc- Đường chưa thông không tiếc máu, xương”, “ Nhà tan cửa nát cũng ừ- Đánh thắng giặc Mỹ cực chừ sướng sau”. Quảng Bình có nhân dân làm nên tất cả: “ Dễ mười lần không dân cũng chịu- Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Và tự hào làm sao, Quảng Bình có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người hiện thân cho ý chí, tài năng, nhân cách lớn của cả quê hương.
"Cái lý kỳ diệu của sự đổi thay phong tục và sự tác thành văn minh con người đều do có sự hun đúc và dưỡng dục của trời đất"- Dương Văn An. Nói đến Quảng Bình là nói đến vùng đất “ Sơn- Hà- Cảnh- Thổ/ Văn- Võ- Cỗ- Kim”. Đó không chỉ đơn thuần là những danh hương mà là cả một vùng cảnh quan sông núi luôn gắn với con người văn võ từ cỗ chí kim. Mảnh đất này đã tạo nên những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp có giá trị vĩnh hằng. Đó là lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, yêu con người; tinh thần dám xả thân ngoan cường trong đánh giặc; cần cù, chịu thương chịu khó, đùm bọc cưu mang cộng đồng trong sản xuất và đời sống. Những giá trị tinh thần truyền thống đó đã được nuôi dưỡng, phát triển qua các thế hệ tạo nên một sắc diện văn hóa Quảng Bình hôm nay.


[1]  Theo sách " Tiền Hán thư ", " Hậu Hán thư " đều chép quận Nhật Nam có 5 huyện: Chu Ngô, Tượng Lâm, Lô Dung, Tỷ Cảnh và Tây Quyển tức là miền đất phía nam Đèo Ngang. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng vùng đất Quảng Bình thuộc huyện Tây Quyển, sang đời Tấn chia Tây Quyển đặt thên huyện Thọ Linh ( vùng đất huyện Quảng Trạch ngày nay-PVD)
[2] Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì đó là Bố Chính, Địa lý, Ma Linh; Theo ĐNNTC là Bố Chinh, Địa Lị (Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép là Tư Ninh) và Ma Linh và vì vậy mới có việc đổi tên Bố Chinh thành Bố Chính, Địa Lỵ thành Lâm Bình, Ma Linh thành Minh Linh
[3] Lấy tên tỉnh Hòa Bình nơi đầu tiên phát hiện di tích tiêu biểu của nền văn hóa này
[4] Lê Đình Phúc: Tiền sử Quảng Bình. NXB Khoa học xã hội. HN-1997.Tr 122
[5] Lấy tên Bàu Tró ( Đồng Hới- Quảng Bình) nơi phát hiện đầu tiên, tiêu biểu cho nền Văn hóa cuối thời đại đồ đá mới ở vùng biển Hà Tĩnh, Quảng bình.
[6] Lê Đình Phúc. Sdd. Tr 176.
[7] Tính đến 31-12- 2008 dân số QB là 857.818 người
[8] Các số liệu sau đây lấy từ Ban Dân tộc miềm núi QB năm 2000
Từ khóa: vị trí

Những tin mới hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm website của chúng tôi. Hãy cho chúng tôi biết bạn là :

Học sinh

Cựu học sinh

Thầy Cô giáo

Cựu giáo viên

Phụ huynh học sinh

Khách

Liên kết website




Danh Ngôn

Tình yêu là điều kiện, nơi đó hình ảnh của người khác cần thiết cho chính bản thân của bạn.R. A. Heinlein

Liên kết

Đảng Cộng Sản
Chính phủ
Bộ GD-ĐT
Sở GD-ĐT Quảng Bình
Thư viện giáo án
Hòm thư điện tử