Giới thiệu địa chỉ sửa chữa máy bơm nước, sửa chữa điện nước, sửa điện nước, sửa chữa điện nước tại nhà, thông tắc chậu rửa bát và cung cấp mua bán phụ tùng xe howo chính hãng chuyên nghiệp, uy tín, được nhiều bình chọn tin dùng tại Hà Nội

21:17 ICT Thứ sáu, 19/07/2019
Tập thể CB - GV - NV và Học sinh trường THCS và THPT Hóa Tiến thi đua Dạy tốt - Học tốt

Tin tức

Tổ chức

Tra cứu thông tin

Tài nguyên

Tiện ích

Facebook trường

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 27


Hôm nayHôm nay : 536

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8098

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1342312

Trang chủ » Tin Tức » Tin tức » 410 năm hình thành tỉnh Quảng Bình

thcsvathpthoatien.edu.vn

ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC KHAI THIẾT DƯỚI THỜI NHÀ LÊ

Thứ sáu - 03/01/2014 10:42
I. THAM GIA KHỞI NGHĨA LAM SƠN GIÀNH LẠI ĐỘC LẬP DÂN TỘC
 
Từ đầu thế kỷ XV, triều đại phong kiến nhà Minh (Trung Quốc) lợi dụng sự suy yếu của nhà Trần đã tiến hành các hoạt động dò thám và khiêu khích chuẩn bị âm mưu xâm lược nước ta. Dưới triều Minh Thành Tổ (1402 - 1424) nhà Minh trở thành một quốc gia phong kiến hùng mạnh. Năm 1406, nhà Minh phái một đạo quân hộ tống đưa tên phản bội sống lưu vong trên đất Minh là Trần Thiên Bình về nước, âm mưu dựng lên chính quyền tay sai, nhưng nhà Hồ đã đánh tan quân hộ tống bắt sống Trần Thiên Bình. Cuối năm 1406, quân Minh phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, nhà Hồ chỉ chống cự được một thời gian ngắn, đất nước ta lại rơi vào tay quân xâm lược phong kiến phương Bắc một lần nữa.
Sau khi đánh bại triều Hồ, quân Minh thủ tiêu nền độc lập dân tộc, phá hủy cơ cấu nhà nước và âm mưu đưa nước ta trở lại chế độ quận huyện của thời phong kiến phương Bắc thống trị cách năm thế kỷ trước đó. Tháng 4 năm 1407, nhà Minh đổi nước ta thành bộ Giao Chỉ. Từ đó, bộ máy đô hộ của nhà Minh được thiết lập từ quận cho đến các phủ, châu, huyện.
Ở vùng đất Quảng Bình ngày nay, nhà Minh đặt phủ Tân Bình với ba huyện Phúc Khang, Nha Nghi và Tri Kiến; đem hai châu Bố Chính và Minh Linh lệ vào. Đổi châu Bố Chính thành Chính Bình có 3 huyện là Chính Hòa, Cổ Đặng và Tòng Chất. Châu Minh Linh đổi thành phủ Nam Linh có 3 huyện là Đơn Duệ, Tả Bình và Dạ Độ. Năm Minh Vĩnh Lạc thứ 17 (1419) đem huyện Tri Kiến lệ vào hai huyện Nha Nghi và Phúc Khang, lại đem ba huyện Chính Hòa, Cổ Đặng, Tòng Chất của châu Chính Bình sát nhập lại[1].
Năm Minh Vĩnh Lạc thứ 5 (1007) dân số phủ Tân Bình có 2.132 hộ với 4.738 khẩu[2]
Khi xâm lược nước ta, quân Minh thi hành một chính sách đàn áp, bóc lột hà khắc đối với nhân dân ta. Khắp nơi, chúng xây dựng nhiều thành lũy và đồn ải dày đặc, ngăn cấm nhân dân ta không được sản xuất tích trữ và sử dụng mọi thứ vũ khí. Sự đi lại, làm ăn của mọi người dân được kiểm tra ngặt nghèo. Trong các cuộc càn quét, khủng bố chúng chém giết, dùng mọi cực hình, thảm sát tàn bạo. Về mặt kinh tế, chúng thi hành chính sách bóc lột, vơ vét tham tàn. Chúng đặt ra nhiều thứ thuế đánh vào mọi hạng dân hết sức nặng nề tăng lên gấp ba, bốn lần so với trước đó. Chúng bắt dân đinh từ 15 đến 69 tuổi hàng năm phải đi lao dịch trên các công trường xây dựng thành lũy, khai khoáng mỏ vàng, mỏ bạc ở miền núi, mò ngọc trai dưới đáy biển. Ngoài ra chúng còn bắt nhiều người là thợ thủ công, thầy thuốc, trẻ em, phụ nữ đem về nước phục dịch phong kiến quan lại nhà Minh. Cùng với những chính sách kinh tế hà khắc, quân Minh còn thi hành chủ trương tịch thu, tiêu hủy sách vở, phá hủy bia đá, bắt dân ta phải thay đổi phong tục tập quán, cách ăn mặc theo lối phương Bắc nhằm âm mưu đồng hóa lâu dài.
  Tôi ác của giặc Minh: “ Tát cạn nước Đông Hải, không rửa sạch hôi tanh/ Chặt hết trúc Nam Sơn, khó ghi đầy tội ác” ( Nguyễn Trãi- Bình Ngô đại cáo)
Trước tình hình đó, nhân dân ta ở nhiều nơi trong cả nước đã đứng lên đấu tranh chống lại chính quyền đô hộ và các chính sách bóc lột, đồng hóa của nhà Minh. Đáng chú ý là các cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi (1407-1409), Trần Quý Kháng (1409-1413), Phạm Ngọc (1419-1420) và Lê Ngã (1419-1420). Những cuộc khởi nghĩa đó đã giáng những đòn trừng trị đích đáng vào đội quân xâm lược, tạo tiền đề cho một cuộc khởi nghĩa rộng lớn, giành lại độc lập dân tộc.
Năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hóa), Lê Lợi cùng 18 bạn chiến đấu thân tín đã làm lễ tuyên thệ, dấy binh khởi nghĩa quyết đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Nhiều anh hùng hào kiệt, những người yêu nước  khắp nơi kéo về tụ nghĩa, đứng dưới ngọn cơ Lê Lợi tiến hành cuộc kháng chiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, nghĩa quân Lê Lợi hoạt động chủ yếu ở Thanh Hóa, sau đó tiến vào Nghệ An là “ nơi hiểm yếu, đất rộng, người đông” để làm bàn đạp cho cuộc tiến công, tiến lên giải phóng toàn lãnh thổ. Sau khi chiếm được Nghệ An, mùa thu năm Ất Tỵ (1425), Lê Lợi hội các tướng mà bảo rằng: “ Các vị tướng giỏi thời xưa, thường bỏ chỗ kiên cố mà đánh vào nơi nứt rạn; lánh chỗ nhiều mà đánh chỗ ít. Như vậy thì chỉ dùng nửa phần sức lực mà thu được thành công gấp bội. Nay hai xứ Thuận Hóa, Tân Bình mất liên lạc với Nghệ An và Đông Đô đã lâu rồi. Vậy ta nên thừa kế tiến đánh hai xứ đó”[3] . Lê Lợi sai Tư đồ Trần Nguyên Hãn, Thượng tướng Doãn Nỗ, và Chấp lệnh Lê Đa Bồ dẫn hơn 1.000 quân tiến đánh Tân Bình và Thuận Hóa. Đạo quân của Trần Nguyên Hãn được nhân dân Bố Chính hưởng ứng, nghĩa quân nhanh chóng đánh bại quân Minh ở sông Gianh. Thừa thắng, Lê Lợi cho Lê Ngân, Phạm Bôi và Lê Văn An dẫn thuyền chiến tiếp ứng, cho quân vượt biển tiến vào Thuận Hóa. Khi đội quân Lam Sơn đến, nhân dân Tân Bình, Thuận Hóa cho con em tòng quân tham gia nghĩa quân “ thu được vài vạn quân tinh nhuệ bổ sung vào binh số, thanh thế lừng lẫy”. Giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa, Lê Lợi vẫn đặt hai lộ Tân Bình và Thuận Hóa như dưới đời Trần.
Sau khi giải phóng vùng đất rộng lớn phía nam bao gồm Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, nghĩa quân Lam Sơn đã chuyển từ thế phòng ngự sang thế tấn công tiến đánh thành Đông Quan, chặn đánh đội quân ứng cứu gồm 15 vạn quân từ Quảng Tây, Vân Nam sang ở Chi Lăng, Xương Giang, tiêu diệt hoàn toàn đội quân xâm lược, hoàn thành cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.
Sau chiến thắng quân Minh, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo khẳng định độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ của nước Đại Việt, kiên quyết đánh bại mọi kẻ thù xâm lược:
“ … Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Cõi bờ sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc- Nam cũng khác.
Trải… Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Mà hào kiệt không bao giờ thiếu”.
 Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh nhân dân vùng Bố Chính và Tân Bình đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Lê Lợi khen thưởng quân dân ở Tân Bình và Thuận Hóa rằng: “  Trước kia, Chiêm Thành nghịch mạng, xâm lấn biên cương ông cha các người đã đem lòng giúp thuận, báo đáp quốc gia đánh bại quân giặc, lấy lại đất đai, tiếng thơm, công lớn ghi lại sử sách. Nay quân Minh bất đạo, trên trái lòng trời, cùng binh, độc võ cốt mở đất đai, khiến sanh dân lầm than đã 20 năm. Ở các kinh, lộ của ta, chưa thấy ai bày tỏ lòng trung, ra sức lập công, mà các người là bề tôi phên dậu, lại biết nhớ công đức của ông, cha hết lòng trung thành với nhà vua, lập được chiến công, trung thành như thế thật đáng khen[4]
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, ngay từ khi Lê Lợi  dấy binh nhân dân Tân Bình tham gia quân khởi nghĩa.
Tiêu biểu có Nguyễn Ca [5]người xã Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy theo Lê Lợi dấy binh ở Lũng Nhai, đánh giặc lập công được ban tước Trung Lượng Đại phu. Con ông là Nguyễn Tri giữ chác Đại đội trưởng quân Thánh dực sở Thần vệ, Thần đinh được ban tước là Vũ Tiết Đại phu. Cháu ông là Nguyễn Đình Tuấn theo nghĩa quân đi đánh giặc, cần mẫn, giữ đúng quân pháp được trao chức Quả cảm tướng quân rồi thăng chức Phấn lực tướng quân, Chánh võ úy sở Cương tả vệ Nghệ An. Cháu nội là Nguyễn Đình Tán cũng nối nghiệp vẻ vang của ông cha lập công dưới triều Lê
Nguyễn Tử Hoan: người châu Bố Chính, có tài mưu lược, dâng kế lên Lê Lợi, hợp ý vua được trao chức Quân sư.
Phạm Thượng tướng ( không rõ tên) người xã Đại Phúc Lộc huyện Lệ Thủy nghe tin Lê Lợi dấy binh liền tìm theo. Khi đi ngang qua xã Duy Liệt, Nghệ An đã giết chết viên Đại Hành khiển làm ngụy quan cho giặc Minh làm lễ dâng vua. Về sau lập công trạng được phong Thượng tướng.[6]
Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi mở ra một trang sử mới trong sự phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam. Với thắng lợi của cuộc kháng chiến, nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững, nạn xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc hoàn toàn bị đánh bại. Tình hình đó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để củng cố nền độc lập và đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước dưới triều đại nhà Lê.
 
II. CÔNG CUỘC KHAI THIẾT THỜI NHÀ LÊ
 
  1. Đẩy mạnh di dân lập ấp.
Vào đầu đời Lê, từ thế kỷ XV đến đầu thê kỷ XVI, chế độ phong kiến tập quyền đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhất là nửa sau thế kỷ XV dưới triều của Lê Thánh Tông.
 Dưới triều Lê công cuộc khai phá vùng đất Quảng Bình lại có bước phát triển mới.
Trong hơn hai mươi năm đô hộ của nhà Minh, đất nước ta bị tàn phá hết sức nặng nề. Sau khi chiến tranh kết thúc, nhà Lê bắt tay vào phục hồi kinh tế, một công việc cấp bách và trọng yếu hàng đầu. Để phục hồi nông nghiệp nhà Lê đã thi hành một số chính sách và biện pháp tích cực. Trước hết đó là việc đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang để lập đồn điều. Lực lượng lao động chủ yếu trong các đồn điền là tù binh, tội nhân và một số quân lính đồn trú ở các địa phương. Đến năm 1481 cả nước ta có 43 sở đồn điền phần lớn tập trung ở vùng đất mới khai phá ở phía nam. Các công trình khai hoang phục hoá của nhân dân ở các địa phương được đẩy mạnh, nhất là ở các vùng trung du và ven biển. Cùng với việc khai hoang phục hoá, lập đồn điền, nhà Lê đã coi trọng việc xây dựng đê điều và các công trình thuỷ lợi. Những công trình thuỷ lợi được xây dựng và quản lý chặt chẽ đã giữ vai trò rất quan trọng trong việc phục hồi và phát triển nông nghiệp lúc bấy giờ. Để chăm lo cho việc đắp đê, khai hoang phát triển nông nghiệp, nhà Lê đã đặt các chức quan Hà đê sứKhuyến nông sứ, củng cố hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp từ trung ương đến các địa phương.
Đối với ruộng đất, bắt đầu đời Lê, chế độ sở hữu Nhà nước được mở rộng. Sau chiến tranh nhà Lê ra lệnh tịch thu ruộng đất của quan lại nhà Minh và bọn tay sai, điền trang thái ấp của quý tộc đã chết và ruộng bỏ hoang sang làm ruộng đất công. Nhà Lê sử dụng ruộng đất đó ban cho quý tộc quan lại làm lộc điền, một phần bổ sung vào ruộng đất của công xã để chia cho nông dân cày cấy theo chế độ quân điền. Kinh tế điền trang thái ấp dưới thời Trần được dần dần xoá bỏ. Với việc xoá bỏ chế độ điền trang thái ấp, nhà Lê đã huỷ bỏ cơ sở của sự phân tán và cát cứ của các thế lực quý tộc, tạo điều kiện cho sự phát triển của chế độ trung ương tập quyền. Với chế độ lộc điền quyền lợi của tầng lớp thống trị mới được củng cố, đẩy mạnh sự phát triển của giai cấp địa chủ và thắt chặt sự lệ thuộc của tầng lớp này đối với nhà vua, chủ sở hữu tối cao về ruộng đất. Với chế độ quân điền, mọi người dân trong công xã đều được chia ruộng theo phẩm hàm, chức tước và địa vị xã hội. Người nông dân cày ruộng đất công thực chất là tá điền của nhà nước, phải nộp tô thuế và lao dịch cho nhà nước.
Với chế độ quân điền, nhà Lê một mặt vẫn bảo tồn công xã, nhưng mặt khác biến công xã thành cơ sở bóc lột của chính quyền phong kiến, biến thành viên công xã thành những người dân lệ thuộc vào nhà nước phong kiến. Nhà Lê một mặt vừa củng cố và bảo vệ chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất, mặt khác vì lợi ích của giai cấp địa chủ nên mở rộng chế độ tư hữu ruộng đất. Từ chính sách ruộng đất đó, nhà Lê đã có những chủ trương đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang ở những vùng chưa khai phá trong đó có vùng Bố Chính (tức Bố Trạch, Quảng Trạch của Quảng Bình ngày nay). Dưới các triều đại Lý, Trần mới được tập trung khai phá ở phía nam là vùng Tân bình. Vùng đất phía bắc thuộc châu Bố chính còn hoang sơ, dân cư thưa thớt, chưa được khai phá vì điều kiện phát triển nông nghiệp nhất là làm ruộng nước không thuận lợi như ở phía nam. Vì vậy, triều đại nhà Lê đã có chủ trương di dân, khai phá cùng Bố Chính tộng lớn với quy mô lớn.
Năm Đinh Hợi (1467) dưới triều Lê Thánh Tông, tham nghị thừa tuyên sứ Hoá châu là Đặng Thiếp dâng sớ trình bày năm điều lợi:[7]
  1. Dựng đồn luỹ ở cửa Tư Dung
2. Lấp cửa Eo
3. Đào kênh Sen
4. Bãi bỏ chức thuế sứ ở đầu nguồn.
5. Chiêu mộ những kẻ lưu vong đến khai khẩn ruộng hoang ở châu Bố Chính.
Trong 5 điều Đặng Thiếp tâu trình cho là có lợi, có 2 điều liên quan đến công việc khẩn hoang và phát triển kinh tế ở Quảng Bình. Việc đào kênh Sen trước đây Hồ Hán Thương cũng đã tính đến nhưng không hoàn thành được. Lần này, nhà Lê lại tiếp tục thể hiện quyết tâm mở mang vùng đất phía Nam Quảng Bình, đồng thời có tính đến yếu tố quân sự cho việc vận chuyển quân lương vào phía trong. Việc chiêu mộ những người lưu vong vào khẩn hoang vùng Bố Chính phù hợp với chính sách khẩn hoang của triều Lê nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp của đất nước.
Những điều Đặng Thiệp tấu trình được Lê Thánh Tông chấp nhận và xuống chiếu di dân khai hoang vùng đất Bố Chính. Về sự kiện này, Phan Khoang trong Việt sử xứ đàng trong có viết: “R.P Cadiere có đọc một tài liệu còn giữ được ở làng Mỹ Hòa, huyện Quảng Trạch, theo đó thì trong niên hiệu Hồng Đức, khi vua Thành Tông đi đánh Chiêm trở về, xuống chiếu rằng Bố Chính đất rộng, ít dân cư, chạy đến tận châu Hoan, vậy ai đến đó khẩn hoang sẽ được lợi lớn, và theo ông Mỹ Hòa phần nhiều làng ở Bắc Quảng Bình đã được thành lập vào thời ấy”[8]
Hưởng ứng chiếu dụ của vua Lê Thánh Tông, nhiều quan lại, dân tự do binh lính đến đây định cư, khai hoang lập làng. Ngoài các thành phần trên còn có nhiều người bị lưu đày ở ngoại châu (phía Bắc sông Gianh) và lưu viễn châu (phía Nam sông Gianh) cũng tham gia vào việc khai phá vùng Bố Chính. Khác với vùng phía nam khi di dân vào châu Lâm bình trước đây họ định cư lập ấp theo từng dòng tộc và tên làng mang tên của những dòng họ. Thành phần định cư ở vùng Bố Chính đa dạng hơn, một làng có nhiều dòng họ khác nhau, do đó không thấy những tên làng mang tên của một họ tộc như ở phía Nam.
Cuộc di dân, khai hoang lập ấp theo chiếu dụ của Lê Thánh Tông là cuộc di dân lập ập lớn nhất trong quá trình khai thiết vùng đất Quảng Bình trong lịch sử. Theo gia phả của một số dòng họ để lại, việc di dân lập ấp dưới thời Hồng Đức (Lê Tháng Tông) đầu tiên là tập trung hai bên bờ sông Gianh. Từ phía thượng nguồn có thể kể đến là làng Lệ Sơn (Văn hoá, Tuyên hoá), làng Vĩnh Phước (Quảng trường), làng Lũ Phong, làng Hoà Ninh (Quảng Hoà) Quảng trạch ngày nay. Phía Nam Đèo Ngang dọc đường Thiên lý đã có nhiều cư dân phía Bắc vào khai canh lập nên những “phường” những “kẻ” như kẻ Càng (Quảng Kim), kẻ Xã (Cảnh Dương), kẻ Sóc, kẻ Chài (Quảng Phú), kẻ Đại, kẻ Nương (Quảng Xuân)... phía Nam sông Gianh có thể thấy các làng Bồ Khê (Thanh Trạch), Cao Lao Thượng, Cao Lao Hạ, Cao Lao Trung (Bắc Trạch), Khương Hà, Cự Nẫm ... thuộc huyện Bố trạch ngày nay.
Những cư dân định cư ở châu Bố chính dưới thời Lê Thánh Tông thường tập trung ở những vùng có đất đai canh tác, bãi bồi ven sông nhưng cũng có làng được hình thành trên địa bàn ở các cửa sông, vùng ven biển thuận tiện cho nghề chài lưới. Từ những vùng dân cư này, địa bàn cư trú dần dần lan toả lên phía tây và phủ khắp địa bàn trong toàn châu Bố chính.  Cùng với việc khai hoang lập ấp vùng Bố Chính, công cuộc khai thiết vùng Tân Bình được đẩy mạnh, xóm làng ngày càng đông đúc.
Theo sách Thiên Nam dư hạ tập chép thì đời Hồng Đức định bản đồ phủ Tân Bình có hai huyện là Khương Lộc với 4 tổng, 80 xã, 7 thôn, 4 trang; huyện Lệ Thủy có 6 tổng, 28 xã, 2 trang;  Châu bố Chính với 12 tổng, 64 xã, 24 phường, 20 trang[9]
Đến giữa thế kỷ XVI, cuối đời nhà Lê, đầu đời nhà Mạc vùng Tân Bình có các đơn vị hành chính như sau[10]:
Huyện Lệ Thủy gồm 32 xã 1 thôn: Đại Phúc Lộc, Tuy Lộc, An Xá, Thuỷ Trung, Quần Cụ, Ngô xá, Tiểu Phúc Lộc, Xuân Hồi, Cổ Liễu, Quy Hậu, Uẩn Áo, Tâm Duyệt, An Trạch, Ái Nhân, Dương Xá, Thổ Ngoã, Phù Tông, Thạch Xá, An Chế, Phù Việt, Dân Duyệt, Ba Nguyệt Thượng, Ba Nguyệt Hạ, Hoà Luật, Hoắc Đặng, Thuỷ Lan Thượng, Thủy Lan Trung, Thuỷ Lan Hạ, Liêm Luật, Lê Luật, Thôn Miễn, Thuỷ Cần, Thuỷ Trung.
Huyện Khang Lộc gồm 73 xã: Cái Xá, Côn Bồ, Hoàng Khê, Quân Lý, Mai Xá, An Mễ, Phúc Lộc, Lộc Châu, Thạch Bồng, Tân Lệ, Chu Xá, Lỗ Xá, Phạm Xá, Lỗ Nguỵ, Chương Trình, Lỗ Việt, Bùi Xá, Cao Xá, An Toàn, Vũ Khuyến, Đỗ Khúc, Thủ Thừ, Đỉnh Nại, Vũ Khả, Cao Ngạc, Phúc Lương, Hoành Tấn (Hoành phổ), Hạ Duệ, Thượng Long, Hạ Long, Nguyệt Áng, Đặng Lỗ, Trường Dục, Phúc Diễm, Hiển Phạm, Thạch Bồng, Trương Xá, Thượng Xá, Hàm Nhược, Viễn Tuy, Trung Trinh, Đức Phổ, Hoàng Xá, An Thái, Chính Thuỷ, Văn La, Văn Yến, Minh Lý, Mật Sát, Phan Xá, Hà Cừ, Cừ A, Trung Sơn, Yêu Niễu, Lại Xá, Quất Xá, Thái Xá, Phúc Nhĩ, Tả Phan, Hữu Đăng, Lũ Đăng, Khâm Kỳ, Hoàng Đàm, Kim Lũ, Đô Nguyễn, Trung Quán, Ngô Xá, Trung Kiên, Lệ Kỳ, Hữu Bổ, Gia Cốc, Đặng Xá.
Châu Bố chính gồm 68 xã: Hoành Sơn, Thuần Thần, Tòng Chất, Di Phúc, Đình Bồn, Tang Du, Thuỷ Vực, Lai Dương, Phù Lưu, Sùng Ái, Pháp Kệ, Hưởng Phương, Hy Sơn, Lũ Đăng, Tiểu Đan, Đại Đan, Thổ Ngoã, An Bài, Đơn Sa, Trung Hoà, Tân Lang, Lễ Trung, Thanh Bào, Lỗ Cảng, Xuân Mai, Bồ Khê, Cao Lao Thượng, Cao Lao Trung, Cao Lao Hạ, Vân Lôi, Thị Lễ, Kim Linh Thượng, Kim Linh Hạ, Thị Lạc, Trường Tùng, Biểu Lễ, Tân Lễ Thượng, Tân Lễ Hạ, Vĩnh Giao, Lệ Sơn Thượng, Lệ Sơn Hạ, Phù Trạch, Hải Hạc, La Hà, Khương Hà, Lương Xá, An Mỹ, La Kinh, Cự Nẫm, Vũ Lao, Uyên Trừng, Minh Trừng, Thanh Lăng, Kim Lô, Thông Bình, Câu Lạc, Cổ Than, Hoành Trung, Ba Đông, Lan Hương, Nam Liêu, Hoà Duyệt, Ma Cô, Phúc Lộc, An Bần, Tùng Khát (Tùng Hát), Bạch Miễn, Đặng Đề, Di Luân (Khuất Phố).
So với đơn vị làng xã dưới thời Trần (Phủ Tân bình có 37 xã), dưới thời Lê lên tới 173 xã đã phản ánh sự phát triển mạnh mẽ, một bước tiến quan trọng trong công cuộc khai phá vùng đất Quảng Bình. Các cuộc di dân bắt đầu từ thời Lý, qua Trần, Hồ đến đời Lê, đặc biệt là cuộc khai hoang lập ấp thời Hồng Đức, các làng xã ở Quảng Bình tuy có quy mô không lớn, dân không nhiều vì vùng đất này vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng đã tạo lập nên hình hài cơ bản của các đơn vị hành chính cơ sở của Quảng Bình sau này. Theo bản đồ hành chính năm Quang Thuận thứ 10 (1496) Quảng Bình lúc đó có 3 trung tâm chính: huyện Lệ Thuỷ, huyện Khang Lộc tức vùng Quảng Ninh, Đồng Hới nay, Châu Bố Chính tức vùng Quảng Trạch, Bố Trạch ngày nay. Qua nhiều thời kỳ biến đổi nhiều tên làng thời ấy vẫn còn tồn tại đến  tận bây giờ.
Cùng với việc phân chia địa giới hành chính, bộ máy quan lại hành chính được hình thành để trông coi công việc hành chính trên địa bàn. Theo sách Ô Châu cận luc của Dương Văn An thì số quan lại ở phủ Tân Bình có Tri phủ, Đồng Tri phủ, Nho học huấn đạo (2 người), Huấn khoa (tạp lưu), Khuyến nông sứ, Hà đê sứ. Huyện Lệ Thủy, Khang Lộc, châu Bố Chính có 2 người: Tri huyện và Huyện thừa.
Ở Tân Bình lúc này ngoài các châu huyện, còn có vệ Trấn Bình đóng ở thành Ninh Viễn (Lệ Thủy) có các quan Tổng tri, Đồng Tổng tri, Thiêm tỏng tri, Điển bạ và 5 sở mỗi sở 3 viên quan phụ trách là Khống lãnh, Võ úy, Phó võ úy.[11]
Việc thiết lập bộ máy hành chính đã tạo điều kiện cho việc quản lý xã hội, phát triển kinh tế của vùng đất Quảng Bình dưới thời Lê.
 
2 Phát triển kinh tế. Cùng với việc định cư, lập làng, kinh tế- xã hội đã có bước phát triển mới. Ngoài vùng lúa ở Lệ Thuỷ, Khang Lộc được khai phá trước đây nay có thêm những cánh đồng ven biển ở vùng Bố Chính (Quảng Trạch - Bố Trạch).
Về sự  tích khai tiết vùng Bồ Khê (Thanh Trạch - Bố Trạch), sách Địa chí xã Thanh Trạch cho biết: “Họ Lưu đến khai khẩn vùng đất nam Bồ Chính này từ thời Hồng Đức, năm thứ 3 (1473). Tại dây, ngài lập gia đình, lại xuống Bồ Khê, khai phá ruộng hoang, Ngày cùng hai người con trai khẩn ra vùng đồng bằng trải rộng từ Đồng Lào, Đồng Văn về đến đồng Con Ruộng. Về sau con cháu ngày lấy cánh đồng Con Ruộng làm hương hoả để thờ phụng ngài, gọi là ruộng từ điền cố Lưu[12]
Việc khai phá ruộng đất để hình thành nên những cánh đồng ven biển đòi hỏi phải tốn nhiều công sức đắp đê ngăn mặn vì ở vùng này nhiều năm “nước lụt mặc cho tràn ngập không có đê ngăn”. Công cuộc đắp đê ngăn mặn để khai phá những cánh đồng ven biển được phản ảnh trong nhiều gia phả họ tộc. Gia phả các dòng họ Bồ Khê có ghi:
Tiếp sau cố Lưu là cố Nguyễn. Cố Nguyễn từ Cao lao xuống. Tuy là người thứ hai đến lập nghiệp ở Bồ Khê, song công lao khai phá không phải là nhỏ. Cố đắp đê ngăn mặn, khẩn ra Đồng Sác, từ Núi Thuỷ về đến Mái Am. Lúc ấy ngài đồng trại ở Đồng Na lập ra xóm Phúc Lộc. Người ta khen ngợi con cháu của cố Nguyễn biết phát huy tác dụng của cánh đồng Sác mà trở nên giàu sang »[13]
Việc đắp đê ngăn mặn khai hoang làm ruộng nước ở phía Bắc Sông Gianh lúc này có thể kể đến các công trình của các làng ven Sông Gianh như An Bài (Thuận Bài), Thổ Ngõa (Thổ Ngọa) với các đập Làng, đập Bàu Nàng, đập Tiên, đập Tiền, đập Hậu, đập Hương Hỏa[14]... Vùng đất Bồ Chính tuy đất rộng nhưng diện tích có thể canh tác ruộng nước ít, đất đai lại bị nhiễm mặn vì nằm hai bên các cửa sông gần biển, nhưng người dân Bồ Chính lúc bấy giờ đã cần cù nhẫn nại đắp đê ngăn mặn tạo lập nên những cánh đồng lúa nước ngày nay.
Ngoài việc khai hoang làm lúa nước ở đồng bằng ven biển, vào thời này người dân Tân Bình đã định cư ở vùng đồi bán sơn địa khẩn hoang làm ruộng lập vườn. Ở Châu Bố Chính vùng Bắc Gianh có thể thấy các làng Thuần Thần, Thuỷ Vực, Phù Lưu, Pháp Kệ, Lệ Sơn... ở Nam Gianh có Khương Hà, Cự Nẫm, Ba động...
Cùng với trồng trọt nghề chăn nuôi phát triển. Con trâu là đầu cơ nghiệp, do đồng ruộng sình lầy ở vùng Lệ Thuỷ, việc canh tác vùng này khá vất vả, trong Ô Châu cận lục Dương Văn An cho biết : “Cày buộc 2 trâu, lưỡi cài ở giữa; bừa tựa tấm phản người đứng ở trên”. Chính vì vậy người dân Tân Bình lúc này ngoài việc chăn nuôi trâu nhà còn có nghề thuần phục trâu rừng. “Lệ Sơn, Hà Lạc thuộc Châu Bố Chính có nghề vụng dậy trâu rừng”. Các địa phương nuôi trâu nhiều có Hà Lạc, Thị Lễ ở châu Bố Chính. Do nhu cầu nuôi trâu phát triển nên đã xuất hiện những người đi buôn trâu. Lái trâu tập trung nhiều ở làng Tuy Lộc huyện Lệ Thuỷ
Cùng với việc trồng trọt, chăn nuôi nhà Lê còn khuyến khích dân chúng trồng bông dệt vải và trồng dâu nuôi tằm “Vua Thánh Tông lấy sự nông trang làm trọng. Thường ngài sắc cho phủ huyện phải hết sức khuyên bảo dân làm việc cày ruộng trồng dâu”(1) .
Theo gia phả của một số dòng họ ở Thuận Bài (Quảng Thuận - Quảng Trạch), dưới thời Nhà Lê việc trồng bông dệt vải ở đây rất phát triển. Ở một số có bãi bồi ven sông phát triển việc trồng dâu nuôi tằm, như ở hai bên bờ sông Gianh, sông Kiến Giang. Những làng trồng dâu nuôi tằm dệt lụa nổi tiếng lúc đó có làng Trường Lục, huyện Khang Lộc, làng Lệ Sơn, châu Bồ Chính. Ô châu cận lục chép: “Trai Vũ Khuyến chăm chỉ canh nông, gái Trường Lục chuyên cần dệt lụa" . Theo các biểu thuế chép trong thời kỳ này nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa trong Phủ Tân Bình thì Châu Bố Chính hàng năm phải đóng thuế “lụa xanh 66 thước, lụa hoa 20 thước” .
Ngoài việc trồng bông dệt vải,trồng dâu nuôi tằm dệt lụa một số nghề thủ công khác gắn với nhà nông đã phát triển. Trong thời kỳ này có thể kể đến nghề làm chiếu hoa ở Đại Phúc Lộc, huyện Lệ Thuỷ, gối hoa ở Đại Hoàng,  châu Bố Chính. Sách Ô châu cận lục chép:
Chiếu hoa (của xã Đại Phúc Lộc huyện Lệ Thuỷ) làm bằng mây tước có hai màu hồng nhạt và vân, loại thô 1 mặt, loại mịn 2 mặt. Đó là vật trải võng cáy. Gia đình các bậc công hầu, tướng văn, tướng võ rất thích loại đệm này. Gối hoa (của trang Đại Hoàng, châu Bố Chính) làm bằng mây trắng, loại nhỏ để gối khi nằm, loại to để tựa khi ngồi, là vật dùng trong chốn phòng the, các nhà phồn hoa phú quý rất ưa thích ».
Ngoài ra một số nghề tiểu thủ công khác như nghề làm nón ở Thuận Bài, nghề tre đan ở Thọ Đơn đã phát triển từ thời kỳ đó và lưu truyền, trở thành những làng nghề truyền thống đến ngày nay.
Do yêu cầu của việc phát triển nông nghiệp, làm nông cụ phục vụ sản xuất và vũ khí cho binh lính, nghề khai thác quặng sắt, luyện gang, rèn, mộc đã bắt đầu phát triển. Nghề khai thác quặng sắt phát triển ở huyện Lệ Thuỷ và Châu Bố Chính; nghề luyện gang phát triển ở làng Cao Lao thuộc huyện Bố Chính. Diêm tiêu sản xuất nhiều ở hang núi An Đại thuộc huyện Khang Lộc, nguyên lấy được lấy từ phân dơi các xã Trung Kiền, Hoàng Đàm làm thành. Nghề rèn, nghề mộc phát triển ở khắp nơi phục vụ cho việc sản xuất các loại nông cụ và đóng thuyền. Đối với nghề xẻ gỗ đóng thuyền có thể kể đến một số làng nổi tiếng như Hoà Luật của huyện Lệ Thuỷ, Bồ Khê, Câu Lạc, Cổ Thân của Châu Bố Chính.
Về nghề đóng thuyền ở Bồ Khê (Thanh Trạch ngày nay), dân gian còn lưu truyền những câu vè thời kỳ khai phá làng với những câu như sau:
                     Người ngoài xứ Nghệ mới vào
                     Cái cui cái đục, cái bào cái khoan.
                     Đường sinh nghiệp du nhàn
                     Gió đưa duyên kỳ ngộ…
                     Nương dựa xã Bồ Khê…
                     Mừng cho trên dưới bạn bè
                     Được an cư dạ trạch…
Việc định cư lập ấp ở các vùng ven biển và ven sông tạo điều kiện cho người dân Tân Bình phát triển nghề đánh bắt hải sản và đi liền với việc đánh bắt là chế biến thuỷ sản. Theo các gia phả của dòng họ, nghề đánh bắt cá biển tập trung ở một số làng ven biển. Phía bắc châu Bố Chính có Di Luân, Cảnh Dương, La Hà, Tân Lễ, Bồ Khê; huyện Khang Lộc có làng Hà Cừ, Động Hải; huyện Lệ Thuỷ có Lệ Luật. Ở các xã ven sông có nghề chài lưới, vó bè . Nghề đánh bắt cá trên sông phát triển nổi tiếng là Thạch Bồn, Tân Lệ.
Các loại thuỷ hải sản nổi tiếng ở Tân Bình thời này có thể kể đến là cá vược, cá hồng, cá thoi ( thoa ngư)…có nhiều ở Lệ Thuỷ, Bố Chính ; hàu ở Viễn Tuy, ruốc ở Hoàng Xá huyện Khang Lộc ; ngao, tôm hùm ở Di Luân, yến sào ở Lỗi Lôi, châu Bố Chính, sò cửu khổng (sò chín lổ) ở hải đảo Thuỷ Cần, huyện Lệ Thuỷ.
Một số làng nghề chế biến hải sản nổi tiếng lúc này là Di luân, châu Bố Chính ; làng Hà Cừ, Động Hải huyện Khang Lộc. Các sản phẩm chế biến của Tân Bình lúc đó không chỉ tiêu thụ ở địa phương mà còn được lưu thông ra bắc và vào năm. Để phát triền nghề chế biến hải sản và phục vụ đời sống dân sinh nghề làm muối phát triển tập trung ở Châu Bố Chính và huyện Khang Lộc. Theo Ô Châu cận lục “ở Châu Bố Chính thuế lưới quăng, ruộng muối, vó bè là 42 quan; ở huyện Khang Lộc, thuế lưới quăng, ruộng muối là 30 quan, 3 mạch 66 tiền(1).
Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, ở Tân Bình lúc bấy giờ vấn tồn tại nền kinh tế săn bắt, hái lượm đóng góp không nhỏ trong việc bảo đảm đời sống nhân dân và đóng góp các loại thuế cho Nhà nước. Theo Ô châu cận lục các thứ thuế sản vật của phủ Tân Bình thời kỳ này có:
Châu Bố Chính: Ngà voi 200 cân, lông đuôi chim trĩ 140 chiếc, mật ong 1.935 cân, sáp ong 957 cân, da hươu 2 tấm, da hươu cái 1 tấn, nhung hươu 2 cân, lông công 520 ngọn.
Huyện Khang Lộc: Ngà voi 100 cân, long đuôi chim trĩ 200 lạng, trầm hương 10 cân 12 lạng, biện hương 100 cân, tốc hương 27 cân 12 lạng, bạch mộc hương 238 cân, sáp ong 160 cân, mật ong 420 cân, nhung hươu 2 cân 8 lạng, da hươu 4 tấm, da hươu cái 1 tấm, lông chim trĩ 1.020 ngọn.
Huyện Lệ Thuỷ: lông chim trĩ 200 chiếc, da hươu 3 tấm, da hươu cái 1 tấm, nhung hươu 2 cân, lông chim 820 ngọn.
Cùng với các ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngành thương mại cũng đã có bước phát triển mới. Nhiều chợ nông thôn hình thành để mua bán trao đổi sản phẩm. Lúc này, ở Tân Bình cũng xuất hiện những chợ lớn, là trung tâm mua bán của khu vực. Một trong những trung tâm thương mại thời đó phải kể đến chợ Đại Phúc của huyện Lệ Thuỷ.
Sách Ô Châu cận lục viết: “Chợ ở vào địa phận hai xã Đại Phúc và Tuy Lộc thuộc huyện Lệ Thuỷ. Sông cái gần kề, khe nhỏ bao quanh. Bên cạnh có cầu vòm, sau lưng là chùa phật bốn bên tám ngả, đường sá phẳng bằng; muôn ngách ngàn khe, thuyền bè tụ tập. Thật là một nơi đô hội của xú Thổ lý”(1).
Về giao thông vận tải, con đường thiên lý của Nhà Hồ thiết lập trước đây được mở rộng, bên cạnh đường bộ, giao thông đường sông khá phát triển. Một số dinh trạm, bưu trạm được xây dựng phục vụ cho việc giao thông liên lạc, phát triển kinh tế và phục vụ quốc phòng. Thời Lê - Mạc có ba trạm được xây dựng có quy mô là trạm dịch Di Luân ở châu Bố Chính, trạm Bình Giang ở huyện Lệ Thuỷ và trạm Nhật Lệ ở huyện Khang Lộc.
Sách Ô châu cận lục chép: “Trạm Bình Giang ở xã An Trạch huyện Lệ Thuỷ. Từ Châu Minh Linh đi đường bộ đến, từ Nhật Lệ thì đường thuỷ vào. Sườn núi đá chông chênh, mặt nước sông nhấp nhô. Sông núi bao la, gió trăng lồng lộng. Đây là một cảnh đẹp. Trạm Nhật lệ ở cửa biển Nhật lệ huyện Khang Lộc. Lưng dựa núi xanh, đầu gối dòng biếc. Núi sông đẹp mắt, gió trăng mê người. Hoặc khi trời vừa hửng, hay buổi bóng xế tà, lúc nào cũng đông đúc lộng cờ, áo khăn lũ lượt. Đây cũng là bưu trạm của Giang Nam”.
Trên cơ sở phát triển kinh tế, thương mại một số trung tâm kinh tế được manh nha. Đây chưa phải là những thành thị hiện đại, nhưng ở đấy những yếu tố thị thành đã xuất hiện với sự tập trung dân cư, giao lưu kinh tế.Sách Ô châu cận lục gọi là những phố chính. Ở Bố Chính có Hoành Sơn và Cao Lao(1).
Ở Tân Bình lúc bấy giờ có Thành Ninh Viễn, vốn là thành của người Chiêm trước đây, sang đời Trần được củng cố bởi danh tướng Hoàng Hối Khanh khi nhận chức tri huyện của huyện Nha Nghi. Đến thời Lê, Mạc là nơi đóng quân của Vệ Trấn Bình.
Sách Ô châu cận lục chép: “Thành ở địa phận xã Uẩn áo huyện Lệ Thuỷ. Sông Bình Giang chảy qua phía trước, sông Ngô giang ôm phía sau, hai sông ấy chảy đến phía Tây bắc thì hợp làm một. Thành 3 mặt giáp sống còn một mặt là núi. Có lẽ Vương công đặt thành nơi hiểm yếu để làm phân dậu cho thành hoá vậy. ở phía nam thành có đá khắc đề: Ninh Viễn thành. của Vệ Trấn Bình đống ở đấy”(2).
  1. Văn hóa- xã hội.
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống xã hội, văn hoá ở Tân Bình có bước phát triển so với các thời đại trước đây. Dưới thời nhà Lê, Nho giáo giành được địa vị thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến. Chính quyền phong kiến lấy Nho giáo làm mẫu mực cho việc dựng nước trị dân, làm khuôn vàng, thước ngọc cho việc xây dựng các thiết chế chính trị xã hội. Nho giáo đời Lê chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Tống Nho. Học thuyết này xây dựng trên cơ sở học thuyết Khổng tử của những nhà nho đời Tống ở Trung Quốc. Tuy nhiên, Nho giáo khi truyền bá sang nước ta đã có sự biến đổi cho phù hợp với yêu cầu biến đổi xã hội. Trong lúc Nho giáo được nhà Lê suy tôn thì Phật giáo và Đạo giáo bị lấn át.
Tân Bình là một vùng đất mới, tất nhiên Nho giáo vẫn phải được thiết lập để bắt mọi người phải phục tùng tuyệt  đối quyền hành tối thượng của hoàng đế, thần thánh hoá uy quyền của nhà vua phân biệt rạnh ròi ranh giới giữa vua, quân và dân. Khi Nho giáo được trở thành quốc giáo thì địa vị nho sĩ hết sức được đề cao. Ở Tân Bình, trong bộ máy quan lại có hai viên quan trông coi việc Nho học huấn đạo. Qua các gia phả của các dòng họ ở một số làng được thành lập vào thời kỳ nhà Lê cho thấy Nho giáo có địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của nhân dân Tân Bình lúc bấy giờ.
Sách Khai khẩn truyện ký của làng Cảnh Dương ở điều 18 ghi: “Hễ tam cương ngũ thường đều là tối trọng của đạo người. Từ sau, hễ vợ mà chửi mắng chồng, con mà mắng bố, em mà đánh chửi anh, làng biết được, hoặc ai tố cáo ra, thì bị đòn 50 roi”(1).
Tuy nhiên, Nho giáo vào Tân Bình có phần hạn chế ở khía cạnh tư tưởng triết học, chỉ phổ biến dưới gốc độ đạo đức. Vì tầng lớp nho sĩ ở đây chưa phát triển mạnh như ở phía Bắc.
Bên cạnh Nho giáo, Phật giáo tuy đã mất địa vị quốc giáo nhưng những đạo đức Phật giáo đã ăn sâu vào đời sống nhân dân không thể phai mờ được. Cùng với việc di dân lập ấp các thiết chế Phật giáo là các chùa vẫn đi theo cùng với người dân đi khai phá. Ở Bồ Khê (Thanh Trạch ngày nay) năm lập làng (Hồng Đức thứ ba- 1473) cũng là năm xây dựng chùa Quan Âm. Ở Cảnh Dương có chùa Cảnh phúc. Nổi tiếng lúc bấy giờ có Chùa Kính Thiên và Chùa Đại Phúc ở huyện Lệ Thuỷ, Chùa Hoá ở huyện Khang Lộc.
Sách Ô Châu cận lục chép: “Chùa Kính Thiên ở gần trạm Bình Giang huyện Lệ Thuỷ. Nước biếc bao quanh, núi xanh chầu theo, phảng phất vẽ thanh u của một ngôi chùa núi, như thế giới của tiên phật. Gần kề thôn xóm, bạt tiếng chó gà. Thực là ngôi chùa lớn của Tân Bình vậy. Chùa có quả chuông nặng ngàn cân, các nhà sư và người quét dọn hàng năm phụng sự. Nay hoa rụng chim kêu, còn trơ nền cũ mà thôi ».
Về chùa Đại Phúc : “Chùa ở địa phận hai xã Đại Phúc và Tuy Lộc huyện Lệ Thuỷ. Sông cái quanh phía trước, khe nhỏ vòng bên phải. Cầu Ngọ bắc qua, chợ Hợi sầm uất. Ngôi chùa sừng sửng ở giữa, điện đài khang trang, hoa cỏ đón mặt trời, lâu đài gần mặt nước, thực là nơi thanh tịnh. Những ngày tiết đán có tập tục lễ nghi, lễ nhạc nghiêm trang, áo mũ rực rỡ. Đây là một danh lam của Tân Bình. Mỗi khi cầu phúc, cầu mưa đều được ứng nghiêm »
Về Chùa Hoá: “ Chùa ở gần xã Hữu Bổ thuộc huyện Khang Lộc, bên ngoài bao quanh bốn mặt là đầm nước mịt mờ, ở giữa nổi lên một gò đất, cây cối âm u. Chùa này chỉ còn nhắc đến tên mà không còn dấu cũ. Tục truyền chùa này biến hoá bất thường. Ai đó nhàn rỗi dạo đến chơi thì thấy nền cũ rành rành. Nếu có ý tìm tòi thì mịt mờ không thấy. Bởi thế mới có tên là chùa Hoá »
Qua sự hoang phế của chùa Kính Thiên và chùa Hoá cho thấy Phật giáo lúc này không còn là quốc giáo, được Nhà nước coi trọng như dưới thời đại Lý, Trần. Đặc biệt dưới thời vua Lê Thánh Tông cấm không cho làm chùa mới để tiền của và công phu làm việc có ích.[15] Nhưng, với lý thuyết đạo đức từ bi Phật giáo vẫn còn tồn tại trong đời sống tinh thần của nhân dân và tuỳ theo điều kiện cụ thể nó lại được phục hồi ở những thế kỷ sau.
Dưới triều Lê Thánh Tông, vua đặt ra 24 điều, sức cho dân xã thường thường giảng đọc để giữ lấy thói tốt[16]. 24 điều Lê Thánh Tông quy định những chuẩn mực đạo đức ứng xữ trong quan hệ gia đình để giữ luân thường đạo lý, quan hệ giữa quan lại với dân chúng ngăn chặn việc quan lại ức hiếp dân lành. Trong gia đình, cha mẹ phải dạy con phép tắc, trai gái đều có nghề nghiệp, không được rượu chè cờ bạc. Con trưởng phải giữ lễ phép để cả nhà noi theo. Anh em phải hòa thuận, yêu mến nhau, lấy lễ nghĩa mà cư xử. Vợ chồng phải cần kiệm làm ăn, ân nghĩa trọn vẹn. Đối với tầng lớp quan lại phải giữ phẩm hạnh và phép quan, không được cậy quyền, cậy thế làm càn. Quan dân đều phải hiếu để, cùng giúp đở lẫn nhau. Trong phủ huyện không được xâm chiếm điền thổ, không để người nhà ức hiếp dân, nếu ai không chăm dạy bảo dân thì không xứng chức[17]
Việc giáo dục đạo đức, luân thường đạo lý và phong tục tập quán từ thời Lê Thánh Tông đã có tác dụng xây dựng đạo đức xã hội ở Quảng Bình mà mãi sau này đến thời Mạc, vẫn còn tác dụng biểu dương những gương tốt, lên án những hành vi xâm hại luân thường đạo lý. Trong Ô Châu cận lục, Dương Văn An viết :
Trai Vũ Khuyến chăm chỉ canh nông, gái Trường Lục chuyên cần dệt lụa… Tâm Duyệt giàu của giàu lòng. An Xá gái góa tiết nghĩa...Phan Xá trọng nếp nho phong…
  Những người phụ nữ đức hạnh, thờ chồng nuôi con đều được tuyên dương là những người tiết hạnh. Trong Ô Châu cận lục, Dương văn An có nhắc đến người đàn bà ở xã Thị Lễ, châu Bố Chính, Trần Thị Hồng xã Nhân Ái, huyện Lệ thủy, bà họ Phạm người xã Tuy Lộc huyện Lệ Thủy đều là những người tiết phụ được biểu dương.
  Những phong tục tập quán tốt đẹp của người Tân Bình dưới thời Lê, đầu nhà Mạc được Dương văn An phản ảnh trong Ô Châu cận lục như sau:
  “Ma chay thì mau chôn cất, chẳng bày vẽ thờ cúng sớm chiều mà báo hiếu mẹ cha; tế lễ thì chuộng đàn chay, chẳng dốc của cải muôn vàn để tỏ lòng kính Phật. Đưa ma thì múa hát trước linh cữu gọi là “tiền vong”. Giỗ đầu thì cúng tế vào lúc gà gáy gọi là “ đạo kỵ”. Đến như hội đình thì sáng mở chiều tan, để dành năm tới; đám múa hát thì canh giờ thúc trống, chỉ vui một đêm. Nếu có cưới xin thì dùng món nhỏ tiền mắt ngỗng mang làm đồ ăn hỏi; hoặc khi cầu thọ chỉ biện lễ mọn cỗ con gà bày nghi thức hát ca…”[18]
  Dưới thời đại nhà Lê, đặc biệt dưới triều Lê Thánh Tông hoạt động lập pháp được chú trọng và đẩy mạnh. Năm 1483 Lê Thánh Tông sai sưu tập tất cả các điều luật đã ban hành rồi bổ sung thêm và hệ thống hoá, xây dựng thành bộ luật Hồng Đức.
Bộ Luật này thi hành cho đến cuối thế kỷ XVIII và kể cả một số điều bổ sung thêm về sau (gần 721 điều chia làm 6 quyển 16 chương). Đó là một bộ luật phức hợp bao gồm cả luật hình, luật hôn nhân, luật dân sự, luật tố tụng, nhưng tất cả đều trình bày dưới hình thức quy phạm hình luật (vì vậy thường gọi là Lê Triều hình luật)[19]
Với bộ luật Hồng Đức nhà nước phong kiến lúc bấy giờ đã đặt việc cai trị theo pháp luật là một nhu cầu phát triển của chế độ trung ương tập quyền. Nhân dân vì thế phải tuân thủ theo pháp luật. Phủ Tân Bình là một vùng đất mới nhưng không vì vậy mà việc thực hiện pháp luật lơi lỏng. Các gia phả dòng họ, các truyện ký khai khẩn ở các làng đều thể hiện khá rõ việc thực hiện các điều luật nhà nước kết hợp với quy ước, hương ước của địa phương. Đặc biệt trong Ô Châu cận lục còn phản ánh việc học luật ở một số địa phương ở Phủ Tân Bình. Sách chép “Huyện Khang Lộc xã Phúc Lộc anh em dạy nhau học luật[20]
Dưới các triều đại nhà Lê việc giáo dục thi cử được mở mang nhằm đào tạo nho sĩ và quan lại một cách chính quy. Nhà Lê cho mở Quốc Tử Giám và Thái Học Viện ở Kinh thành để đào tạo tầng lớp quan lại cao cấp. Ở các địa phương có trường công và cả trường tư để mở rộng việc học khắp nước. Chế độ thi cử đi vào nền nếp, ở địa phương tổ chức kỳ thi hương, ở kinh thành thi hội ba năm mở một lần để tuyển chọn nhân tài. Nhà Lê hết sức đề cao tầng lớp nho sĩ và quảng cáo cho các kỳ thi đó.
Phủ Tân Bình là vùng đất mới so với các địa phương phía Bắc, nhưng cùng với sự khai thiết, phát triển kinh tế, việc học của vùng đất này dưới triều Lê đã có sự phát triển. Các hương ước, quy ước của các làng ở Tân Bình đều qui định rõ chế độ khuyến học.
Sách Khai khẩn truyện ký của làng Cảnh Dương chép: “ Hễ văn học là do từ mạch đất, từ sau hàng năm vào dịp xuân thu chọn lấy ngày tết thì viên mục, xã trưởng thông báo cho học trò trong làng chuẩn bị trước quyển, đến ngày ấy khảo hạch, nghiêm túc một vòng, ai làm thông văn lý, khá thông văn lý, từ trung bình trở lên thì thưởng giấy có sai biệt, ai dự trúng bảng thì cho du học, tha giảm việc quan. Nếu ai giả danh đến học, mà đi thi chẳng thông văn lý, thì bắt về chịu việc quan. Ai thi hương đồ thủ khoa làng thưởng tiền 5 quan. Thi trúng giám sinh, thì làng đem thủ heo, rượu đến tận núi Chẽ, thôn Nam Khê rước về. Học trò ra khảo hạch tại bổn xứ, trung hạng nhất thưởng tiền 3 quan; tại bổn châu trung hạng nhất thưởng tiền 1 quan; hạch tại bổn phủ trung hạng nhất, thưởng tiền 1 quan, tiền thưởng lãnh tại Hương tích năm đó để trọng Nho đạo”(1) .
Nhiều địa phương ở Quảng Bình trở thành vùng đất văn vật từ truyền thống hiếu học của thời kỳ này. “Cao Lao, Thị Lễ nối nghiệp văn thơ... Phan Xá tiếng tăm văn vật”(2).
Trong thời nhà Lê, Mạc nhiều người ở Tân Bình học hành đổ đạt, được bổ ra làm quan các nhiều địa phương :
- Nguyễn Văn Tường, người xã Trường Luật, châu Bố Chính. Niên hiệu Hồng Thuận triều Lê (1509-1516), được phong Minh Nghĩa công thần, cao sang lừng lẫy trong triều ngoài dân, uy thế rất lớn
- Nguyễn Đình Dao người xã Phúc Lộc, huyện Khang Phúc (Quảng Ninh sau này), xuất thân là học sinh Quốc tử giám. năm Hồng Thuận thứ 5 thi đỗ khoa Hoành Từ ra làm Lục sự vệ Hiệu Lực. Năm Quang Thiệu cử làm tán lý.
- Trần Nguyên Diễn người xã Nhân Ái huyện Lệ Thủy, xuất thân học sinh Quốc tử giám, làm Tri huyện Mộ Hoa, Chương Nghĩa,thăng làm tri phủ các phủ Hoài Nhơn, Thăng Hoa. Làm quan có nhiều thành tích, được thăng làm Hiến sát Phó sứ đạo Quảng Nam
            - Tri phủ họ Trần ( không rõ tên), người xã Phúc Lộc huyện Lệ Thủy, xuất thân nho sinh trúng thức, giữ chức tri binh dân sự phủ Tân Bình
            - Phạm Văn các người xã Đại Phúc huyện Lệ Thủy, xuất thân học sinh Quốc tử giám ra làm Huyện thừa huyện Chương Nghĩa, thăng chức Đồng Tri phủ Tư Nghĩa.
            - Nguyễn Đình Bảo người xã Phúc Lộc, huyện Khang Lộc, xuất thân học sinh Quốc tử giám ra làm Tri huyện bồng Sơn, thăng chức Tri phủ phủ Hoài Nhơn.
            - Thái Nhân Nghĩa người xã Ngô Xá, huyện Lệ Thủy, xuất thân học sinh quốc tử giám làm Đồng Tri phủ Thăng Hoa rồi thăng chức Tri phủ phủ Thiệu Thiên.
            - Tri phủ họ Phạm ( không rõ tên) người xã Phúc Lộc, huyện Khang Lộc, xuất thân họ Qinh quốc tử giám giữ chức Tri huyện sau thăng chức Tri phủ phủ Lâm An
            - Phạm Tri Chỉ, người xã Đại Phúc Lộc, huyện Khang Lộc, xuất thân học sinh quốc tử giám ra làm Tri châu châu Sa Bôi. Cả nhà Phạm Tri Chỉ đều đỗ đạt làm quan, cả làng đều kính nể.
            - Phan Lại người xã Phúc Lộc, huyện Khang Lộc, xuất thân nho sinh trúng thức, giữ chức Tri huyện Bồng Sơn, thăng chức Đô quan Quảng Nam. Con là Trung Hãn cũng là nho sinh trúng thức.
            - Hồ ( không rõ tên) người xã cao lao, châu bố Chính xuất thân học sinh Quốc tử giám ra làm Tri châu châu Văn Lan, thăng chức Đô quan đạo Lạng Sơn, sau làm Tri huyện huyện hải Lăng. Con là Hồ Tán, nho sinh trúng thức.
            - Tri châu họ Phan (không rõ tên) người xã Phúc Lộc huyện Lệ Thủy, xuất thân nho sinh quốc tử giám làm Chủ sự Quảng Nam.
            - Trần Đình Hi người xã Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy, xuất thân nho sinh trúng thức, được bổ làm Tri huyện Hải Dương. Làm việc rất liêm khiết, cần mẫn được dân yêu mến.
            - Trần Vi người xã Phúc lộc, huyện Lệ Thủy. Xuất thân nho sinh quốc tử giám thăng chức Tri châu châu Trịnh Cao, có tài văn học, học giả một vùng đều theo học. Cả hai anh là Phác và Khuê đều đỗ thi hương vào học quốc tử giám.
            - Tri phủ họ Nguyễn ( không rõ tên) người xã Thị Lễ châu Bố Chính, xuất thân học sinh quốc tử giám, được giữ chức Tri huyện huyện Hoa Dương. các con là Lý, Tường đều đỗ thi Hương vào học quốc tử giám.
            - Nguyễn Đình Tán người xã tuy Lộc, huyện Lệ Thủy. Tổ tiên, gia thế có danh vọng, thi đỗ Hương giải. Học trò đều theo học nhà ông sau rất nhiều người thành đạt. Ông giữ chứ Tri huyện huyện Vũ Xương, sau chuyển sang làm Tri huyện huyện Yên Việt. Chính tích ông rất rạng rỡ.
            - Hoàng Công Đán người xã Cổ Bưu ,huyện Lệ Thủy, nổi tiếng trong giới khoa trường là bậc giỏi học thuật, sanh văn chương.
   - Phạm Cư người xã Yên Thế, huyện Lệ Thủy, xuất thân nho sinh quốc tử giám, được trao chức Giảng Dụ
  Đặc biệt trong số đó có Dương Văn An tự là Tỉnh Phủ người xã Tuy Lộc, huyện Lệ Thuỷ, sinh năm 1513 dưới thơi Lê Hồng Thuận. Năm 34 tuổi ông thi đỗ Đồng Tiến sĩ  khoa Đinh Mùi, niên hiệu Vĩnh Định thứ nhất triều Mạc Phúc Nguyên. Sau đó ông từng giữ các chức quan Lại khoa Đô cấp sự trung, rồi thăng lên đến chức Thượng thư, tước Sùng Nhâm hầu. Khi mất ông được tặng Tuấn Quận công. Dương Văn An là soạn giả Ô Châu cận lục, một tác phẩm địa chí có giá trị về vùng đất Quảng Bình đến Quảng Nam ở thế kỷ XVI.
Cùng với các nho sinh đỗ đạt ra làm quan, nhiều người ở Tân Bình và Bố Chính là sinh đồ có tài làm tướng được cất nhắc bổ dụng như:   
- Nguyễn Đình người xã Thạch Bồng ,huyện Khang Lộc giữ chức Quang Lộc đại phu khinh xa Đô úy. Nhiều người trong gia tộc Nguyễn Đình đều làm tướng.
  • Nguyễn Hùng người xã Uẩn Áo, huyện Lệ Thủy giữ chức Đô Lại.
  • Phạm Cơ người xã Tiểu Phúc Lộc huyện Lệ Thủy làm Trấn phủ sứ lộ Hạ Hồng
  • Phạm Tử Linh người xã Đại Nam, châu Bố Chính xuất thân sinh đồ được giữ chức Cai tri ở bản châu.
  • Khống lãnh họ Hoàng ( không rõ tên) người xã Phúc Lộc, huyện Khang Lộc được trao chức Khống lãnh vệ Chế Thắng.
  • Dương Triệt người xã Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy được giữ chức Thống Chế vệ Thần Vũ.
  • Mai trung người xã Đại Phúc Lộc, huyện Lệ Thủy, nguyên là tướng thần bản huyện, rất giỏi võ nghệ, lại dũng cảm thiện chiến, được trao chức Kinh lược Đồng tri sở Thủ ngự Minh Linh
4. Bảo vệ biên cương phía Nam : Dưới thời nhà Lê cùng với việc xây dựng quê hương, nhân dân vùng Tân Bình đã tham gia tích cực vào công cuộc bảo vệ vùng đất phía Nam của nước Đại Việt. Trước những cuộc chiến tranh quấy phá của quân Chiêm Thành để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước nhà Lê đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ biên cương, đồng thời, để ngăn chặn nguy cơ lâu dài đã tiến đánh Chiêm thành mở rộng lảnh thổ đất nước xuống phía Nam.
Năm 1470, vua Chiêm Thành là Trà Toàn đem 10 vạn quân thuỷ bộ cùng với tướng binh và kỵ binh đánh uy hiếp thành Hoá Châu. Trước tình hình đó Lê Thánh Tông phải xuống chiếu, viết Bình Chiêm sách, thân chinh cầm quân đánh Chiêm thành. Trên đường Nam chinh qua Tân Bình lệnh cho dân sở tại đào kênh để tiện bề chuyển quân.
Sau khi Trà toàn bị bắt, tướng Chiêm thành là Bô Trí Trà chạy vào Phiên Lung (Phan Rang ngày nay) sai sứ xin hàng và xin được phong vương. Lê Thánh Tông chấp thuận phong cho Bồ Trì Trì làm vua Chiêm thành trên miền đất từ Đại lãnh trở vào. Nhưng để hạn chế thế lực của Chiêm thành, phòng ngừa những cuộc tiến công xâm lấn như trước đây, Lê Thành Tông chia phần đất còn lại của Chiêm thành làm ba bước là Chiêm Thành, Nam Bàn và Hoa Anh.
Đất Đại chiêm (Quảng Nam), Cổ Luỹ (Quảng Ngãi) mới chiếm lại cùng với vùng đất mới là Đồ Bàn từ Hoài Nhơn đến Cù Mông được sát nhập vào bản đồ Đại Việt với tên gọi là Đạo Quảng Nam. Nhà Lê chia đạo Quảng Nam thành 3 phủ 9 huyện, đặt quan cai trị.
Với chiến thắng Ất Mão (1471) Lê Thánh Tông đã dẹp được nguy cơ xâm lấn của người Chiêm thành ở phía nam, cơ bản chấm dứt cuộc chiến tranh giữa Đại Việt và Chiêm thành suốt 400 năm. Biên giới Đại Việt ngày càng được mở rộng về phía nam, uy tín của Lê Thánh Tông và nước Đại Việt được đề cao, các nước láng giềng lo giữ quan hệ bang giao hoà hiếu. Đất nước thái bình, Lê Thánh Tông tập trung cho việc khôi phục và phát triển kinh tế. Dưới triều đại Lê Thánh Tông đất nước thịnh trị. Đây là giai đoạn phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến tập quyền của nước ta.
Lê Thánh Tông là vị vua dành nhiều thời gian vi hành từ Bắc vào Nam, từ An Quảng (Quảng Ninh) đến tận Phú Yên ngày nay.Đối với vùng đất Tân Bình ông đac để lại nhiều bài thơ nói lên tình cảm của mình với vùng biên ải xa xôi nhưng rất đổi tự hào về lịch sử của cha ông thời Lý Trần, từ đó ngẫm về trách niệm của bậc thánh nhân: “Ký nam thánh hóa hoằng nhu viễn/ Khẳng hạn phong cương ngoại đảo di” (Bậc thánh nhân đi giáo hóa đến miền nam để vỗ về nơi phương xa/ Không vì ngoài biên cương hiểm trở mà bỏ dân nơi xa xôi này)
Trong cuộc tiến đánh Chiêm Thành năm Hồng Đức thứ nhất (1470), quân dân Tân Bình đóng góp sức người sức của, tham gia sửa chữa đường xá giúp đỡ đại quân của Lê Thánh Tông tiến binh. Truyền thuyết kể lại rằng khi đội quân Lê Thánh Tông đến Thủy Liên (Sen Thủy, Lệ Thủy ngày nay) bèn hạ lệnh cho quân lính và dân sở tại đào con kênh để tiện bề vận chuyển quân lương vào phía trong. Vùng đất này, thời Hồ Hán Thương cũng cho đào để khai thông từ Tân Bình đến địa giới Thuận Hóa nhưng vì cát đùn lên không khai được. Lúc bấy giờ, lý trưởng làng Thủy Liên là Mai Văn Bản (Bổn) đến quỳ tâu với vua rằng: “Chỗ này vùng cát lồi, nếu đào sông xong rồi cũng bị lấp, thời uổng phí sức dân”. Vua nghe vậy cả giận, bèn cho quân sĩ bắt chém đầu rồi quan quân tiếp tục viễn chinh. Khi thắng trận trở về qua Thủy Liên thấy sông đã lấp cạn, đoàn tượng binh gồm 20 thớt voi cứ cắm ngà xuống cát, rống lên mà không chịu đi. Vua kinh ngạc, dân chúng cho biết, chắc hồn Mai Văn Bản về kêu oan. Lê Thánh Tông cho lập đàn, sai người khấn rằng: “ Như Bổn có thiêng thời cho voi ta đi, ta sẽ phong tặng cho” Khi khấn xong, quả nhiên 20 con voi cùng đứng dậy đưa Vua và cả đoàn quân tiếp tục cuộc hành quân. Lê Thánh Tông phong Mai Văn Bản làm thổ thần, cho lập miếu Bảo Đài thờ tự và đề câu đối: “Nhất phiến trung can trừng ngự tượng/ Thiên thu chính khí nghiệm kinh ô” (Một lòng ngay thẳng, voi vua phục. Ngàn năm chí khí sáng trời cao.)[21]
 
Hơn bốn thế kỷ kể từ khi triều Lý, khi Bố Chính và Địa Lý trở thành lãnh thổ của Đại Việt (1069) cho đến thời Lê, vùng đất Quảng Bình ngày nay luôn là địa bàn trọng yếu trong các cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ biên cương, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nơi đây từng là trọng trấn, bàn đạp tiến công của các triều đại Trần, Lê trong công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam. Đó cũng là quá trình di dân lập ấp, khai sơn phá thạch, biến một vùng đất nghèo khó thành những làng quê trù phú của xứ Tân Bình. Cùng với kinh tế, văn hoá - xã hội vùng đất Quảng Bình đã có những bước phát triển nhảy vọt. Mang theo truyền thống văn hiến của dân tộc, được vun đắp bởi nền văn hóa Lý Trần những cư dân đầu tiên của Quảng Bình đã đem đến đất mới những giá trị tinh thần của cha ông để tạo nên sắc diện riêng của một vùng đất. Đó là truyền thống đấu tranh kiên cường, xả thân vì nước, cần cù chịu thương chịu khó, đoàn kết cộng đồng để xây dựng vùng đất mới được khai phá.
 


[1] Theo ĐNNTC. Sđd. Tr6-7
[2] Theo PBTL. Sđd. Tr46
[3] Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử. NXB Văn hóa thông tin. HN 2006.Tr 55
[4] Phan Khoang: Việt sử xứ đàng trong. NXB Văn học. 2001. Tr 79
[5] Sách ÔCCL viết Nguyễn Ca nhưng theo ĐNNTC là Nguyễn Danh Khá
[6] ÔCCL. Sđd. tr 91-92
[7] ĐVSKTT. Sdd. T2. Tr425
[8] Phan Khoang: Việt sử xứ đàng trong. Sđd, tr89
[9] Theo Phan Khoang. Sđd tr 93
[10] Theo Ô châu cận lục. Sđd trang38-40. Thống kê huyện Khang Lộc chỉ có 72 xã nhưng sách viết 73 xã; châu Bố Chính thống kê có 69 nhưng sách viết chỉ 68. Chúng tôi xin được chép lại theo nguyên văn (PVD)
[11] ÔCCL. Sđd. Tr88
[12] Nguyễn Tú: Địa chí xã Thanh Trạch. NXB Thuạn Hóa 1995. Tr 30
[13] Sách trên. Tr 31
[14] Xem Đỗ Duy Văn: Địa chí làng Thổ Ngọa. HVHNT Quảng Bình. 2006. Tr30
(1)  Việt Nam sử lược . Sách đã dẫn T1, trang 262
(1) Ô Châu cận lục  Sđd, trang 29
 
(1) Ô Châu cận lục  Sđd, trang 74
(1) Ô Châu cận lục  Sđd, trang 90
(2) Ô Châu cận lục  Sđd, trang 74
 
(1) Xem Cảnh Dương chí lược - Trần đình Vĩnh chủ biên 1993 trang 157.
[15]Trần trong Kim: Việt Nam sử lược. NXB Tp HCM. 1997. Tr262
[16] Sách trên. Tr263
[17] Theo Trần Trọng Kim. Sđd. Tr265
[18] ÔCCL. Sđd. Tr 45
[19] Lịch sử VN. Sđd, tr 273
[20] Ô châu cận lục. Sđ d, tr 49
(1)  Cảnh Dương chí lược Sđd, trang 158
(2) Ô Châu cận lục - Sđd, trang 50 - 53
 
[21] Theo ĐNNTC. Sđd. Tr69 và Nguyễn Kinh Chi: Quảng Bình thắng tích lục. Thư viện QB.1998.Tr150
Từ khóa: tham gia

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm website của chúng tôi. Hãy cho chúng tôi biết bạn là :

Học sinh

Cựu học sinh

Thầy Cô giáo

Cựu giáo viên

Phụ huynh học sinh

Khách

Liên kết website




Danh Ngôn

Tình yêu:Tình yêu là một tình cảm vĩ đại nhất, nó sáng tạo nên điều kỳ diệu, sáng tạo nên những con người mới, nó làm ra những giá trị vĩ đại nhất của con người.Makarenko

Liên kết

Đảng Cộng Sản
Chính phủ
Bộ GD-ĐT
Sở GD-ĐT Quảng Bình
Thư viện giáo án
Hòm thư điện tử